Monday, January 12, 2015

Thế kỷ kết liễu độc tài

images


Những ngày của đầu năm 2015, tin tức về cái chết của Fidel Castro, nhà lãnh đạo cộng sản khét tiếng của Châu Mỹ Latin đang được lan truyền khắp nơi. Có thể đó chỉ là tin đồn. Có thể ông ta đã chết nhưng đảng cộng sản Cuba đang chọn tìm một thời điểm thích hợp để công bố, như số phận của nhiều nhà lãnh đạo cộng sản khác. Cũng có thể tin đồn đó chỉ là cách phản ánh một tâm thức chán ghét của của đám đông về nhân vật này. Nhưng điều quan trọng hơn, với những gì đang diễn ra ở Cuba, thì ý nghĩa tồn tại thể chất của nhà độc tài cộng sản 88 tuổi không còn quan trọng: Trong mắt loài người văn minh, Fidel Castro kể như đã chết.

Cũng giống như nhiều lãnh tụ cộng sản háo danh khác, Fidel Castro cũng thích nhảy múa cùng những huyền thoại của mình, để ông được "sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta". Một trong những huyền thoại hay được sách vở Cuba tuyên truyền rầm rộ là ông đã phá vỡ được đến 638 vụ ám sát của CIA Mỹ tổ chức nhằm vào ông. Những vụ ám sát được công bố qua các phương thức như bỏ thuốc độc, nổ xì-gà... rất ư là 007. Với theo nhiều tài liệu phân tích của các sử gia, thì đa số là do các tổ chức Cuba phản kháng lưu vong tìm cách thực hiện. Nhưng điều đáng nói nhất, thì người dân Cuba ít được phép nhắc đến, đó là Fidel Castro đã cai trị dân tộc mình bằng máu và nước mắt hơn nửa thế kỷ.

Không chỉ riêng ở Cuba, mà ngay ở Việt Nam, các giáo viên dạy sử cũng được nhận lệnh gia công cho các huyền thoại này. Trong một giờ dạy về lịch sử quốc tế, tôi còn nhớ mình phải học thuộc lòng rằng Cuba như chỉ sinh ra từ Fidel Castro và chủ nghĩa cộng sản. Người thầy dạy sử, mà tôi tin chắc rằng ông ta chưa bao giờ được một lần đặt chân đến Cuba, đã say mê thuyết phục những đứa học trò trung học chúng tôi rằng nơi đó là thiên đường, và Fidel là một kỳ nhân của thế gian khi cải tạo đất nước này sang hình thái xã hội chủ nghĩa.

Ở thiên đường đó, mà tôi cũng từng mơ màng trong suốt nhiều năm, có những điều thật trớ trêu. Hơn một triệu người dân Cuba không chấp nhận cộng sản, chọn cách ra đi đã hàng năm gửi về cho thân nhân của họ hơn 1 tỷ USD kiều hối, tương đương với 35% ngoại tệ thu về hàng năm của cả nước, giúp nền kinh tế này thoi thóp sống. Nơi quốc gia này, nhân viên nhà nước làm việc cho chính phủ, chỉ có được mức lương trung bình khoảng 15 USD/tháng nhưng phí điện thoại di động là 40 USD/ tháng. Tôi không có dịp gặp lại người thầy của mình để hỏi lại cảm giác của ông về những tin tức như năm 2014, người dân Cuba mới bắt đầu được đi du lịch nước ngoài mà không còn cần phải làm bản trả lời thẩm vấn nộp cho công an địa phương. Hoặc chỉ để nhìn lại ông, khi chìa cho ông bản tin chính báo chí Việt Nam đăng tải, rằng các phát minh của thế kỷ 20 như tivi màu, internet... người dân Cuba chỉ được chạm đến trong thế kỷ 21.

Năm 1961, sau một thời gian làm cách mạng lật đổ chế độ thân Mỹ của tổng thống Fulgencio Batista, Fidel Castro tuyên bố mình đi theo chủ nghĩa cộng sản, đưa đất nước này vào bóng đêm tăm tối của chế độ độc tài toàn trị. Dù được ca ngợi là thành tựu ở một vài lãnh vực như y khoa, kiểm soát tội phạm... nhưng đất nước Cuba cũng được nhắc đến về cuộc sống rên siết trong vòng vây của chế độ cộng sản. Một chế độ mà chính chủ tịch mới, ông Raul Castro đã phải thú nhận trước quốc hội vào tháng 4/2011, rằng « Hoặc là chúng ta sửa đổi, hoặc như thế là hết. Chúng ta không còn có thể đi men theo bờ vực thẳm, chúng ta sẽ chìm đắm, và cùng chìm theo ta là nỗ lực của bao nhiêu thế hệ ».

Triều đại bàn tay sắt của Fidel Castro vẫn còn được được mô tả trong bản báo cáo về nhân quyền năm 2009, qua lời của Rodolfo Bartelemí Coba, một nhà tranh đấu cho quyền con người, rằng "Chúng ta sống 24 giờ một ngày, mà vốn đã được chuẩn bị sẵn sàng để bị giam giữ". 10 ngày sau lời phát biểu này, ông Rodolfo cũng đã bị bắt đi mất tích.

Sự tàn bạo của chính quyền cộng sản Cuba, thông qua Lực Lượng Vũ Trang Cách Mạng (FAR) là đề tài kinh hoàng của những người vượt thoát khỏi Cuba. Theo hồ sơ của Hiệp hội Đồng hương Mỹ-Cuba (Cuban American National Foundation) thì từ sau khi Fidel Castro cầm quyền, đã có khoảng 12.000 đối lập chính trị bị bắn, chôn sống hoặc tra tấn đến chết. Nhưng các tài liệu ngoài tiếng Tây Ban Nha thì cho biết số lượng những nạn nhân này có thể lên đến 17.000 người, chỉ tính riêng từ năm 1959 đến 1990.

Một bản tin về chuyện ngay sau khi Mỹ bỏ cấm vận với Cuba vào 17/12/2014 vừa rồi, cũng như tin tức chủ tịch Raul Castro ký trả tự do cho 35 nhà đối lập trong danh sách 100 người được quốc tế đề nghị (8/1/2015), số người đào thoát khỏi Cuba vẫn tăng đến 117%. Dù tự do và thay đổi đang ở ngay trước mặt nhưng người dân Cuba đã không còn kiên nhẫn để chờ đợi nữa. Họ làm mọi cách để chạm vào tự do ngay khi hàng rào kẽm gai vừa lỏng lẻo chứ không còn kiên nhẫn và cam chịu để chờ đến khi hàng rào đó sụp đổ. Không thể đợi Fidel chết và chế độ cộng sản Cuba sụp đổ trên bản đồ chính trị, người dân muốn tiễn đưa ngay cơn ác mộng của đời mình bằng hành động cụ thể nhất.

Khác với các nhân vật như đại tá Gaddafi hay tổng thống Mubarak, các nhà lãnh đạo cộng sản vẫn hay lên tiếng tố cáo sự tư hữu xa hoa của chế độ phương Tây, bày tỏ cuộc sống khiêm tốn của mình. Nhưng khi mọi thứ được phơi bày, người dân mới té ngửa khi biết rằng mọi thứ đều là dối trá. Chính các nhà lãnh đạo cộng sản là kẻ tham nhũng ghê sợ nhất, xa hoa nhất trên tấm lưng còng của tổ quốc mình. Theo tiết lộ từ cuốn La Vie Cachée de Fidel Castro (tạm dịch: Cuộc đời bí ẩn của Fidel), một nhân viên cận vệ của Fidel Castro kể rằng nhà lãnh tụ này chưa bao giờ từ bỏ lối sống tiện nghi tư bản mà ông ta vẫn hay lên truyền hình nguyền rủa nó. Juan Reinaldo Sánchez, người đã làm cận vệ riêng cho Fidel trong suốt 17 năm, sau đó đào thoát qua Mỹ, tiết lộ rằng dân cả nước Cuba không thể nào hình dung nổi cuộc sống sang trọng phung phí của Fidel. Thậm chí Fidel Castro còn quy hoạch một hòn đảo nhỏ thành của riêng cho mình, đảo Cato Piedra, nằm ở phía nam của Vịnh con Heo. Juan nói rằng nơi đó được Fidel Castro xây dựng như một vườn địa đàng, đầy những trại nuôi rùa biển và cá heo.

Thế kỷ 20 và 21 đã chứng kiến nhiều cuộc kết liễu độc tài. Từ Stalin đến Mao Trạch Đông... rồi Kim Chính Nhật đến Gaddafi... giờ thì đã rất gần với Fidel Castro, nhân vật bạo chúa được khoác áo người hùng trong vai diễn của lịch sử cộng sản thế giới. Như một quy luật không thể thay đổi: bất cứ chế độc tài nào rồi cũng phải ra đi, dù đi nhanh hay đi chậm. Thế kỷ như đang kết liễu những nhà độc tài, những nhà nước độc tài núp bóng vì nhân dân, vì tổ quốc. Những người như tôi cũng có dịp để kết liễu những bài học lịch sử nhồi sọ của mình, để ghi vào đó, một trang sử mới bằng tên của những người yêu nước Cuba đã chết cho quê hương của họ được tự do.

 

Wednesday, January 7, 2015

Tự do và sợ hãi

latest-2014-movie-exodus-gods-and-kings-images

Một trong những bộ phim đáng nhớ của đầu năm 2015 này, đó là chuyện kể của đạo diễn Ridley Scott về cuộc di dân của gần 400.000 người Do Thái về miền đất hứa, khao khát thoát khỏi ách nô lệ của Ai Cập. Bộ phim vẽ lại một hành trình dài của con người muốn vượt thoát sự thống trị, thoát khỏi sợ hãi để đến bến tự do. Mọi thứ được đánh đổi, chấp nhận để cái có được mơ hồ nhưng kiêu hãnh: sự tự do của bản thân mình, dân tộc mình. Bộ phim Exodus: Gods and Kings có thể làm cho bất kỳ một dân tộc nào đang bị đàn áp trên thế giới phải rơi nước mắt cùng hy vọng.

Đây lại là một siêu phẩm của Hollywood với ngân sách lên đến 140 triệu USD, tuy nhiên chỉ trong 4 tuần công chiếu, bộ phim này đã thu về hơn 60 triệu USD. Diễn viên Christian Bale tiếp tục lại chinh phục khán giả với vai diễn khắc nghiệt, diễn đạt nhân vật Moses, người khởi xướng cuộc cách mạng, dẫn dắt hàng trăm ngàn người Do Thái bước qua sợ hãi, đoàn kết và thoát khỏi sự thống trị tưởng chừng như muôn đời qua các đời Pharaoh Ai Cập. Dù ở bên cạnh Ai Cập, những con người Do Thái nhục nhằn và cam chịu không bao giờ coi biên giới đó là sự hữu nghị cần thiết hay lời cam kết chấp nhận cúi đầu. Thật khó tả cảm giác về cảnh Ramses, Pharaoh đương thời của Ai Cập ra lệnh mỗi ngày hành quyết một gia đình người Do Thái, cho đến khi nào người Do Thái tự nguyện tố giác và giao nộp Moses cho triều đình. Như mọi ví dụ về các chế độ độc tài của lịch sử chống lại loài người, Ramses muốn gieo rắc sự sợ hãi để trấn áp người dân để cai trị, gieo rắc sự khủng bố để bảo vệ quyền lực của mình. Thế nhưng, khi những người Do Thái gầy gò, mệt mỏi quay về từ buổi hành hình, người ta không nghe tiếng khóc trẻ con, tiếng than thở… mà chỉ có tiếng thì thầm “hãy giúp cho tôi vũ khí, tôi muốn chiến đấu”.

Phút giây ngắn ngủ đó, nhắc nhở muôn vạn điều. Khi vượt qua sợ hãi và nghĩ đến điều cần phải hành động cho tự do, cho tương lai, mọi dân tộc trên thế giới này đều có những biên niên sử vĩ đại. Năm 73 trước Công nguyên, gã nô lệ Spartacus người Thracia lãnh đạo đoàn chiến binh nô lệ trở thành nỗi kinh hoàng của đế chế La Mã. Năm 1258, hàng ngàn người dân nhà Trần quyết cùng thực hiện kế sách ‘thanh dã’ (vườn không nhà trống), hy sinh mọi thứ để đối đầu với 30.000 quân Mông Cổ bách chiến bách thắng của Ngột Lương Hợp Thai, để giành tự do cho quê nhà. Đâu đâu cũng vậy, khi một dân tộc cùng với những người đứng đầu không hèn hạ, không thỏa hiệp, thì không có nỗi sợ hãi nào có thể ngăn họ nghĩ đến tương lai bằng sức mạnh danh dự.

Khi đoàn người của Moses đứng trước biển biển Đỏ, sóng dữ và bao la. Đằng sau thì đoàn chiến xa của vua Ramses đang đến gần. Có những người dân đã kinh hoàng la lên “tại sao chúng ta không quay lại Ai Cập, có là nô lệ thì chúng ta cũng có cái ăn, và không bị giết”. Không có câu trả lời cho những lý luận đó. Những lý luận đã trở thành đương thời của thế kỷ 21 khi con người quen việc phủ lên sự đê hèn của mình bằng ngôn từ nhung lụa. Đạo diễn Ridley Scott đã dùng hình ảnh để trả lời tất cả. Những người đàn bà ôm con nhỏ lao thẳng vào dòng nước. Những cụ già chống gập khập khiễng bước đi. Nếu biển không cạn để gần nửa triệu người đó băng qua, họ đã chết. Lịch sử sẽ ghi lại một câu chuyện thương tâm rằng vào thời cổ đại Ai Cập, 1.300 năm trước Công nguyên, người Do Thái đã chọn cái chết chứ không chịu làm nô lệ.

Trong chuyện cổ tiếng Hebrews, Chúa đã làm phép tách biển làm đôi để người Do Thái tìm đến tự do. Nhưng trong cách kể chuyện không bị lệ thuộc vào tín ngưỡng của đạo diễn Ridley Scott, ông đã diễn đạt bằng khoa học rằng chính các vòi rồng vào thời điểm đó đã hút nước biển cạn trong một khoảng thời gian và tạo nên một sinh lộ thần kỳ cho người Do Thái trước khi quân Ai Cập ập đến. khi được hỏi về phân đoạn này, Ridley Scott nói trên tờ Esquire rằng “tín ngưỡng chính là nguồn gốc lớn nhất của sự dữ. Con người bị xâu xé bởi ý nghĩa chúa trời riêng của mình, thế nhưng trớ trêu thay thượng đế chỉ có một”. Vốn là người theo tin thuyết bất khả tri, Ridley Scott tin rằng cuộc vượt thoát đầy tính sử thi đó, duy nhất bắt nguồn từ niềm tin vào tự do và lòng quả cảm vượt qua sợ hãi của người Do Thái.

Phim Exodus: Gods and Kings không có kết thúc. Hành trình của ông Moses và những người dân Do Thái còn miệt mài. Ông ra đi khi là một dũng sĩ cho đến khi tóc bạc phơ, run rẩy trên chiếc xe về vùng đất hứa. Câu chuyện như một ẩn dụ về hành trình đến tự do của mỗi dân tộc không bao giờ có đoạn kết. Tự do là cuộc tìm kiếm không ngừng, ngay cả khi những nhà lãnh đạo lừa dối bạn rằng tự do đang ở cùng bạn. Miến Điện hay Cuba có thể khác ngày hôm qua, nhưng tự do vẫn còn ở xa xa phía trước. Tự do là con đường chứ chưa bao giờ là đích đến trên thế gian này. Tự do chỉ hiển hiện với những con người đi tim nó, chứ không thể là miếng ăn sợ hãi và nỗi nhục nhằn sống trong nô lệ ở trước bờ biển Đỏ ầm ầm sóng.

Wednesday, December 31, 2014

Hy vọng từ mùa xuân mới

Một năm nữa vừa khép lại. 365 ngày từ đất nước Việt Nam chứng kiến chuyện người, chuyện mình, bất kỳ ai trong chúng ta cũng có thể dấy lên một niềm hy vọng. Có thể niềm hy vọng khởi đi từ tăm tối, niềm hy vọng hồi sinh từ khổ nạn hay niềm hy vọng chỉ còn có thể gửi lại cho đời sau. Đón một mùa xuân, mầm hy vọng lại trồi sinh, chia cho mọi nhà.


Mùa xuân này, có lẽ những người dân Cuba cũng đang hết sức hạnh phúc và hy vọng. Bài diễn văn ngày 17/12 của tổng thống Barack Obama tuyên bố bình thường hoá quan hệ với đảo quốc này sau 54 năm thù địch, đã mở ra một ánh sáng tương lai mới cho dân tộc đã quá khốn khổ này. Cách đây 5 năm, người dân Cuba mới bắt đầu được sử dụng điện thoại di động, tivi màu, lò vi sóng... cũng như những phương tiện hiện đại khác chỉ vì chính sách kiểm soát xã hội - con người của chính phủ. Sự hà khắc của chính quyền Cuba cũng được báo chí mô tả không ít trong từ trước đến nay.

Niềm hy vọng vào tương lai mới của người dân Cuba hiện rõ trên gương mặt từng người, trong từng lời nói được ghi lại trên báo chi và truyền hình quốc tế. Từ hôm nay, những nhạc sĩ, ca sĩ phản kháng của Cuba sẽ không còn phải ngại ngùng để giới thiệu những bài hát của mình về những điều thao thức về vận mệnh dân tộc mình, tổ quốc mình trước lưỡi hái kiểm duyệt. Một chương mới đang đến với lịch sử Cuba.

Niềm hy vọng này không phải mới có, mà đã là một tiến trình thầm lặng, mà chính ngay giới cầm quyền Cuba nhận ra rằng họ cần phải tự thay đổi để sống còn chứ không thể duy trì sự hà khắc để bảo vệ chế độ cộng sản. Từ năm 2012, một mệnh lệnh bí mật được ban ra, cho phép gỡ bỏ dần việc cấm cản, chấm dứt bỏ tù hay sách nhiễu các nghệ sĩ chống chính quyền Fidel Castro. Người dân Cuba đã sửng sốt khi nghe trên radio xuất hiện tiếng hát của các ca sĩ lưu vong Gloria Estefan, Willy Chirino hay tiếng saxophone nhạc jazz của nghệ sĩ Paquito d’Rivera. Thậm chí bà Celia Cruz, được mệnh danh là nữ hoàng nhạc salsa của thế giới cũng được quay lại, sau 50 năm bị cấm vì những tuyên bố mang tính dân chủ của bà. Thậm chí năm 2013, chính quyền Cuba còn làm một hành động mang tính đột phá khi mời bà Celia Cruz từ Mỹ về diễn ở quê hương và ngỏ ý bà nên ở lại và tự do ca hát, cho dù vài năm trước đó, họ đã từng lạnh lùng từ chối cho bà nhập cảnh để dự đám tang cha.

Mùa xuân này, trong dòng người xuống đường đòi chính quyền Cuba hãy nhanh chóng thay đổi thể chế, người ta còn nghe thấy âm nhạc tự do vang lên cùng với họ. Âm nhạc vang lên cùng với hy vọng.

Một trong những sự kiện khó quên khác của cuối năm 2013, đó là chuyện phim hài Interview giá 44 triệu USD của Mỹ khiến cả thế giới theo dõi, để xem quyền tự do ngôn luận có thể chiến thắng được nỗi sợ hãi kẻ khủng bố hay không. Nội dung hài hước về việc 2 ký giả lá cải được CIA giao nhiệm vụ ám sát lãnh tụ Bắc Hàn, đã khiến lãnh tụ họ Kim thật ở ngoài đời nổi giận và đòi huỷ diệt cả nước Mỹ và hãng phim, khiến một nỗi hoảng sợ bao trùm mọi nơi.

Thật sự, đây là một phim hài không có gì đặc sắc. Nhưng nếu Sony Pictures, chủ đầu tư bộ phim này lùi bước, nó sẽ là một bước lùi ô nhục cho quyền tự do tư duy và văn hoá của con người trong thiên niên kỷ được coi là văn minh nhất. Ngày 23 tháng 12, 2014, nhà biên kịch Seth Rogen viết trên trang twitter của mình về việc hãng Sony quyết định công chiếu, bất chấp mọi hiểm nguy, trên đó, ông ghi rằng "Tự do trên hết, Sony sẽ không thể từ bỏ hành trình của mình".

Ít ai biết, để đi đến quyết định đầy thách thức này, Sony đã nhận được rất nhiều lời vận động, ủng hộ từ giới nghệ sĩ có ý thức chính trị và xã hội. Đặc biệt là từ những lời khuyên của diễn viên điện ảnh George Clooney, Sean Penn và của tổng thống President Barack Obama. Điều được nhấn mạnh, là vấn đề không phải ở chỗ một cuốn phim, mà là quyền con người cho tương lai. Rơi vào tình trạng giống như những dư luận viên được Trung Quốc thuê mướn ở Hồng Kông trong cuộc Cách Mạng Dù luôn kêu la về việc họ cần bình yên để làm ăn hơn là dân chủ và rủi ro, hãng Sony được nhắc rằng họ cần phải tồn tại với danh dự của mình và văn minh tương lai, hơn là bảo an thấp hèn.

Một cuộc cách mạnh internet thầm lặng trong lòng Bắc Hàn cũng đang diễn ra sôi động. Hàng triệu người tìm kiếm và chia sẻ nhau bộ phim này để hiểu được thế giới nhìn như thế nào về vị lãnh tụ của mình. Nỗi sợ hãi và tín ngưỡng nhồi sọ huyền ảo về kẻ cai trị cũng phai nhạt dần từ tiếng cười của Interview đem lại. Cũng có thể đã có những niềm hy vọng thắp lên từ bóng tối của miền bắc Triều Tiên, về một mùa xuân mới của ngày mai không còn cộng sản.

Còn một niềm hy vọng khác, gần gũi hơn. Đó là từ thế ảo tại Việt Nam. Khác lại với bất kỳ mạng xã hội nào trên thế giới, facebook tại Việt Nam đang trở thành trạm thông tin quan trọng, đem đến những điều chạm vào da thịt, suy nghĩ của từng người về cuộc sống này. Sự chia sẻ này thậm chí đang khiến báo chí chuyên nghiệp Việt ngữ trở thành nhàm chán và chạm chạp.

Từ các trang mạng, người Việt tìm thấy nhau chân thành hơn, sâu sắc hơn. Rất nhiều những chương trình từ thiện xuất hiện trên đây đã giúp các mạng người, cứu vớt những số phận mà không cần danh lợi. Bên cạnh đó, nhiều sự kiện xã hội còn được các trang mạng lên tiếng, đánh động dư luận đã khiến lương tâm con người thức tỉnh, công lý được vực dậy từ tro tàn. Cái ác bị vạch mặt, những kẻ đục ruỗng đất nước hiện nguyên hình. Những vụ án kêu oan của Hồ Duy Hải (Long An) hay Nguyễn Văn Chưởng (Hải Dương)... thậm chí đã đánh động đến tận các bữa họp quốc hội.

Từ các trang mạng, những con người Việt Nam vô danh đang giúp cho ngành tư pháp nhiều chứng cứ hơn để hoàn thiện các trường hợp, nhiều dữ liệu hơn để cả xã hội nhìn thấy đất nước mình ở đâu, như thế nào... đặc biệt với các trường hợp nhục hình ép cung, lạm quyền bạo hành với người dân, mà báo chí đã liệt kê ở Bắc Giang, Phú Yên, Đắc Lắc, Cần Thơ...

Mạng xã hội là con thuyền và các blogger Việt Nam tử tế đang chèo chống vượt qua những nỗi sợ hãi, sự ích kỷ thấp hèn trong đời sống để cùng xây dựng đất nước này. Họ mang lại những niềm hy vọng cho những người im lặng ngóng nhìn một niềm hy vọng, ngay cả khi chính người viết còn đang tuyệt vọng. Thế giới phẳng đang ngầm nhắc rằng chỉ duy người Việt trên thế gian này mới được hai tiếng đồng bào. Một giống nòi đã cam kết từ khi ra đời sẽ đùm bọc và yêu thương, đưa nhau khốn khó. Một giống nòi chia nhau lên núi và xuống biển để tìm hy vọng.

Một năm nữa đã khép lại. Những u mê, hận thù hay tham lam, cố quyền khép lại, hé mở một năm mới đang nẩy mầm hy vọng. Nhìn quanh ta, và nhìn lại mình, thật sự ta đang vẫn thấy mình còn nuôi hy vọng.

Wednesday, December 24, 2014

Lắng nghe bài hát Giáng sinh Việt Nam 100 tuổi

[caption id="" align="alignnone" width="720" caption="Ảnh: Giang Đông Du"]image[/caption]

Mùa Giáng sinh đến với người Việt Nam đầy những giai điệu của một mùa yêu thương và chia sẻ. Giáng sinh chưa bao giờ có thể thiếu âm nhạc. Và những gì được ghi chép từ âm nhạc Giáng Sinh được biết đến ở Việt Nam, đang làm thay đổi mọi nhận thức về lịch sử tân nhạc Việt Nam từ thời tiền Đệ nhị Thế chiến.

Theo các tài liệu được biết về âm nhạc Giáng Sinh được người Việt nội hóa, tức sáng tác mới từ tiếng Việt chứ không hề chuyển ngữ, thì từ năm 1911, đã có bài Nửa đêm mừng Chúa ra đời do hai linh mục Phao-lô Đoàn Quang Đạt và Gabriel Long soạn thành bài, dựng nên tiết mục hoạt cảnh cho sinh hoạt của nhà thờ. Linh mục Grabriel Long là thầy của linh mục Đoàn Quang Đạt, và là người góp ý để bài hát này ra đời hoàn chỉnh.

Đầu thế kỷ 20, nơi mọi thứ còn rất mông muội trong sinh hoạt văn hóa của người Việt, chính các linh mục với nền Tây học đầu tiên, là người đem nhạc lý và trình diễn âm nhạc đến sớm nhất với người dân theo đạo trong vùng của mình. Nhiều tiết mục âm nhạc, kịch nghệ… lẫn sáng tác mới đã hình thành từ đây. Tuy nhiên, do yếu tố sinh hoạt còn khép kín trong những người theo đạo, nên sự quảng bá không rộng rãi như bây giờ. Âm nhạc lúc bấy giờ chỉ được dùng trong các nghi lễ và sinh hoạt tôn giáo, nên chưa có sức lan tỏa mạnh với quần chúng. Hơn nữa, thị trường âm nhạc Tây học vẫn chưa có chỗ đứng với người Việt, khi đô thị và sinh hoạt kiểu phương Tây chỉ mới bắt đầu hình thành.

Bài hát Nửa đêm mừng Chúa ra đời thường được ghi với tên của linh mục Đoàn Quang Đạt, một phần vì ông là tác giả chính, phần khác là linh mục Gabriel Long với sự khiêm tốn trong việc giới thiệu phần đóng góp của mình, nên cũng ít được nhắc tới. Văn bản viết bằng nốt nhạc hoàn chỉnh trên những dòng kẻ tay của linh mục Đoàn Quang Đạt (1877-1956), được ghi nhận có từ 1911, tức trở thành dữ liệu được tìm thấy sớm nhất về âm nhạc Tây học của người Việt. Hơn nữa, từ năm 1911, bài hát này đã được dàn dựng và trình diễn không ngừng đến tận hôm nay. Năm 1910, nhà sách Tân Định Ấn Quán (Imprimerie de la Mission de Tan Dinh) đã cho ra tập nhạc bản này.

Thật ra, dựa theo tập nhạc nói trên, người ta tìm thấy một bài hát khác của linh  mục Đoàn Quang Đạt, viết từ năm 1907 tên là Ca Vịnh Đức Bà. Do bài hát này ít phổ biến hơn, cũng như thất lạc văn bản gốc, nên tạm thời bài Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời được coi là bài hát đi theo dòng tân nhạc, có mặt sớm nhất trong lịch sử Việt Nam. Và mùa Giáng sinh năm nay, bài hát này được vang lên với độ dài hơn một thế kỷ để chúc lành cho mọi người trong thế giới chưa bao giờ bình an thật sự này.

Nói về nhạc thuật, cũng như lời hát, nếu một lần được nghe qua, bất kỳ ai yêu âm nhạc cũng ngạc nhiên về sự tinh tế trong sáng tác, cũng như hòa nhập tính cách Nam bộ của người Việt theo đạo Công giáo từ miền khác vào đồng bằng Cửu Long. Trong thời điểm mà quốc ngữ còn đang còn nhiều khiếm khuyết, sự hoàn chỉnh của ngôn ngữ trong bài hát này đã làm nhiều nhà ngôn ngữ phải kinh ngạc.

Sự ra đời của bài hát Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời là một bước ngoặt quan trọng trong việc nhìn nhận sự xuất hiện của tân nhạc Việt Nam. Với những tài liệu được biết, bao gồm đĩa nhựa 78 vòng được xuất bản, người ta chỉ biết đến nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên với bài Kiếp Hoa, xuất hiện năm 1938, trong sự trợ giúp của Thống đốc Nam Kỳ Henri Georges Rivoal (1886-1963) để vận động cho tour âm nhạc cải cách từ miền Trung ra miền Bắc bằng xe lửa. Dựa trên dữ kiện này, lịch sử tân nhạc Việt Nam cần phải được ghi chú lại, với bài hát đầu tiên được tìm thấy là tác phẩm của linh mục Đoàn Quang Đạt.

Theo ghi nhận của nhạc sĩ Trần Quang Hải, giai đoạn trước năm 1937 là thời gian được coi là tượng hình, tức chưa rõ ràng gì về âm nhạc, cũng như việc nhìn nhận. Còn với nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013) thì đây là giai đoạn đi tìm nhạc ngữ mới. Tức người sáng tác phải đi tìm ngôn ngữ ca từ lẫn các phương thức sáng tác cho tân nhạc Việt. Ấy vậy mà, khi nghe lại Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời, người nghe sẽ không khỏi ngỡ ngàng như bài hát này chỉ mới được sáng tác gần đây bởi tính hiện đại và hấp dẫn của nó.

Những tư liệu này sẽ là cơ hội cho các nhà nghiên cứu và ghi chép lịch sử âm nhạc bổ sung vào tiến trình hình thành âm nhạc hiện đại của người Việt qua hơn một thế kỷ.

Nhưng trước mắt, chúng ta lại đón một mùa Giáng Sinh với những điều chúc lành, bên cạnh đó được nghe lại một bài hát đã có hơn một thế kỷ. Đó cũng là một món quà êm dịu của mùa cuối năm đầy gió lạnh. Món quà được gửi đến từ quá khứ trăm năm, mà ngỡ như mới hôm qua.

(tổng hợp, theo gợi ý của bs Lê Đình Phương)

4 giờ sáng, ngày mùa đông

NS-27.11-tutuChuong-in3

Suốt trong nhiều năm, tôi cứ bị đánh thức dậy bởi tiếng chuông nhà thờ cách nhà một dãy phố. Buổi sáng, khi chung quanh vẫn còn tối đen, tiếng chuông nhà thờ văng vẳng luôn trở thành một người bạn bí mật nhắc tôi về nhiều thứ, thức tỉnh tôi. Đặc biệt, những ngày cuối năm, trời miền Nam tạm gọi là mùa đông, không khí lạnh đặc. Tiếng chuông cũng âm vang lạ hơn, xa xôi hơn.

4 giờ sáng, thời khắc như bắt đầu mọi thứ ở Việt Nam. Tiếng xe máy lác đác vụt qua trên đường phố. Tiếng chổi sớm, tiếng ho của người già. Tiếng lanh canh của người bán cà phê vỉa hè đun nước. Trong ánh sáng mờ ảo đó, cuộc sống nhen nhúm dần chờ bình minh. Những bóng đèn đường lịm dần nhường chỗ cho ban mai. Và trong ánh sáng chập choạng ấy, những ngày gần đây, tôi hay nghĩ về một đôi vợ chồng già mệt mỏi thức dậy ở Hà Nội, mọi thứ qua loa để kịp ra đường lúc đông người qua lại nhất. Họ giơ cao các tấm bảng viết chữ đỏ như bằng máu với nội dung "con tôi sắp bị chết oan".

Cuối tháng 12 này, anh thanh niên Nguyễn Văn Chưởng sẽ phải chấm dứt cuộc sống của mình theo án tử hình do Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng ký duyệt. Hệ thống điều tra ở thành phố này khẳng định Chưởng là kẻ giết người, trong khi đó, nhiều nhân chứng xác nhận rằng Chưởng ở cách nơi vụ án xảy ra hàng chục cây số đã không được phía điều tra màng tới. Chưởng viết thư bằng máu nói rằng mình đánh đập, bị ép cung, nhục hình... để buộc nhận một tội mà anh chưa bao giờ phạm phải. Những lá thư mà Chưởng đã phải thức trong những đêm tối tăm của nhà ngục, thầm viết và gửi ra cầu cứu với niềm hy vọng lịm dần, do bị bao vây bởi cái ác đeo cà vạt và quân phục. Cái ác cầm gậy và roi, cái ác ngồi xổm lên sự thật và công lý.

Ông bà Nguyễn Trường Chinh và Nguyễn Thị Bích đã bỏ hết mọi việc làm ăn, cầm cố tài sản từ tám năm nay để kêu oan cho con mình. Nhiều tháng nay, hai ông bà bạc đầu, đứng trên nhiều ngã đường ở Hà Nội và giơ cao tấm bảng kêu cứu, hoảng hốt khi ngày chết của con mình gần kề. Có lúc ông bà đứng trong buổi sáng rực nắng, có lúc ông bà ngồi giữa buổi chiều đầy người qua lại, nhưng lòng người xứ Việt như lúc 4 giờ sáng, không còn một tiếng chuông nào lay động. Oan khiên và sợ hãi phải chăng đang tràn ngập đất nước này khiến ai ai cũng kinh hãi lo giữ lấy đời mình? Chỉ đến khi lời đồn về đôi vợ chồng khốn khổ này lan đi ào ạt trên mạng xã hội ảo, người ta mới bắt đầu biết đến họ, những ngày thật, gần đây.

Chưởng nói anh không bao giờ nhận mình là kẻ giết người. Dù anh bị đánh, bị nhục hình, thậm chí điều tra viên doạ giết cả người thân để ép anh ký vào lời khai theo ý họ. Nhưng bất luận Chưởng kháng cự ra sao, một thế lực bí ẩn nào đó vẫn muốn Chưởng phải chết đúng vào ngày giờ đã định, để lại cha mẹ già, vợ và con nhỏ bơ vơ.

Có cái gì đó thật mỉa mai, khi nơi trại giam giữ Chưởng có tên là Trần Phú, người tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng Sản Việt Nam, qua đời năm 1931 do bị người Pháp dùng nhục hình và giết chết. Giờ thì người Việt đã thừa kế tất cả những gì mà họ đã từng lên án và dùng nó để làm bằng chứng lật đổ một chế độ. Trong tương lai của một Việt Nam văn minh, biết đâu di ảnh của cố tổng bí thư Trần Phú có thể sẽ nằm không xa với tấm vải thêu bằng tăm tre lời kêu cứu của Nguyễn Văn Chưởng, về một ký ức tội ác và oan khiên của con người đã từng trãi qua trong thời đại của mình.

4 giờ sáng, những ngày mùa đông này ở Hải Phòng, tử tù Nguyễn Văn Chưởng đang làm gì? Những ngày ghê sợ nhất là những ngày cái chết gần kề mà người ta vẫn còn thoi thóp một suy nghĩ về công lý. Ba mẹ già của anh ở Hà Nội cũng đang thoi thóp hy vọng trên các ngã đường mỗi ngày. Chúng ta, những công dân cũng đang thoi thóp và bất lực chứng kiến bi kịch của một gia đình, như một bi kịch của đất nước mình mà không thể hét lên, gọi ngừng lại, đòi phế bỏ vở diễn đầy đau thương đó.

Trại giam thường đánh thức tử tù vào 4 giờ sáng, vào ngày phải chết. Có thể 4 giờ sáng những ngày mùa đông sắp tới lại là một vết khắc nữa, đòi phải được vay-trả trong hành trình sống khắc khoải của đất nước này. Nhưng có thể 4 giờ sáng nào đó, là ngày oan khiên khép lại, và cái ác như ánh đèn nhân tạo phải tắt dần, nhường chỗ cho bình minh thật sự soi sáng.

Như bao con người khác đang bất lực theo dõi sự kiện của tử tù Nguyễn Văn Chưởng, tôi cũng không đủ sức để làm nên điều kỳ diệu nào với một lời kêu oan. Nhưng tôi và bạn không thể không nói, không thể không hy vọng. Phần nhân tính ít nhất mà bạn có, dù bất lực, là phải ghi nhớ. Ít ra, mai sau chúng ta vẫn có thể đứng dậy và trở thành nhân chứng đáng giá của thời cuộc. Nhân chứng của sự thật dù trãi qua rêu phong. Dù chỉ làm một tiếng chuông cô độc, vẫn hơn là hoà tan mình, thoả hiệp trong đêm tối vô tận không thức tỉnh.

Tham khảo thêm
Bài trên báo Tuổi Trẻ, ngày 23/12/2014

Bài trên báo Người Đưa Tin

10850214_10153472316430620_6343133601537779638_n

va2.donkeucuu

Saturday, December 20, 2014

Những bài hát Giáng sinh chưa bao giờ cũ

Kể từ sau khi bài Silent Night ra đời (1818), bài hát được ghi nhận là tác phẩm lâu đời nhất viết cho lễ Giáng sinh, thì đến nay đã có vô số những bài hát được sáng tác dành cho dịp lễ cuối năm này. Mỗi dịp Giáng sinh về, con người ở khắp nơi trên thế giới lại có dịp ngẫu hứng thêm biết bao những giai điệu mới. Thế nhưng lạ thay, vẫn có những bài hát đặc biệt luôn luôn vang lên, lặp lại nhiều lần mà không thấy chán trong trái tim mỗi người. Những bài hát xa xưa mà không bao giờ cũ.

Có những người đã đi qua hàng chục mùa Giáng sinh, nhưng mỗi năm, khi bài Jingle Bells cất lên, mọi thứ trong đời như được nhấn phím f5 trên máy tính, lại tươi mới và xao xuyến như thuở ban đầu. Nhà phê bình âm nhạc Rachel Pomerance Berl, khi viết trên tờ Huffington Post đã đặt ra câu đố rằng "những bài hát nào có sức mạnh hơn cả những bài hát?", câu trả lời nhanh, đó là nhạc Giáng Sinh. Đôi khi người ta không còn lắng nghe âm nhạc trong mùa Giáng Sinh bằng sự thưởng thức thông thường, không còn phân tích về logic đời sống của bài hát đó nữa, mà chỉ còn bí mật tìm những người đồng điệu với mình trong một khoảnh khắc. Âm nhạc như một thông báo về những ngày rất quen mà trái tim cần đập chậm lại và thêm những nụ cười. Sức quyến rũ kỳ lạ của nhạc Giáng sinh là vậy.

Trong lời giới thiệu mở đầu cho chương trình nhạc Giáng sinh năm ngoái, Jonathan Henley, người cầm trịch của đài phát thanh Road Signs (Mỹ) với giờ âm nhạc có tên WEND trên băng tần 106.5 FM đã nói rằng "chào mừng con người đang bước vào khoảng thời gian của lý lẽ không tồn tại". Lúc nay, chúng ta chỉ cần lắng nghe âm nhạc như để tự nhắc mình là ai, ý nghĩa của cuộc sống này là gì. Nhiều cuộc điện thoại sau lời giới thiệu đó gọi vào, gửi tặng nhạc đến người thân, tiết lộ cho biết rằng ngoài những người Công Giáo, còn có người Do Thái hay Phật Giáo... Đỉnh điểm của Giáng Sinh là nơi tập hợp mọi niềm tin tinh thần, là lòng nhân ái và chia sẻ, nên con người không biên giới đã cùng gặp nhau nơi đó.

Sẽ chẳng còn ai quan tâm đến việc bài Jingle Bells chưa bao giờ thật sự là một bài nhạc dành cho Giáng sinh cả. Thực tế là bài hát này được nhạc sĩ James Lord Pierpont ở Mấchusetts viết cho dịp lễ Tạ Ơn. Và cũng không ai quan tâm rằng bài Rudolph The Red-Nosed Reindeer (ở Việt Nam vẫn hay dịch là Ông Rudolph mũi đỏ) lại là một bài Giáng Sinh được viết nên bởi một nhạc sĩ Do Thái Giáo, tên là Johnny Marks. Giáng sinh làm nên niềm vui của những người có đạo, nhưng âm nhạc thì nối dài vòng tay làm nên một mùa Giáng sinh an lành cho cả thế giới. Âm nhạc phá bỏ mọi ranh giới tín ngưỡng, gợi lại những giấc mơ đẹp và sẽ không bao giờ cũ trong trái tim con người.

Khác với những thể loại âm nhạc khác, nhạc Giáng sinh có giá trị như một bước nhảy alpha, vượt thời gian trong khoa học vũ trụ. Con người có thể đột ngột chuyển vùng tồn tại của mình, quay trở lại những kỷ niệm vui buồn trong đời mình đã qua khi nghe thấy những giai điệu này. Không có một liều thuốc estacy nào đủ mạnh để tạo được những cảm giác khi ngày cuối năm đến, tiếng chuông nhà thờ và âm nhạc vang lên: con người trở nên mộng mơ hơn trong thực tại, và thanh bình ập đến trong trái tim mình.

Nhạc Giáng sinh gần với người Việt hơn, kể từ khi có một trào lưu Việt hoá dòng nhạc này. Sớm nhất, được biết là hai ca khúc Hang Bê-Lem của nhạc sư Hải Linh và Cao Cung Lên của linh mục Hoài Đức. Cả hai bài này đều được ghi nhận cùng xuất hiện vào năm 1945. Đó cũng là giai đoạn của tân nhạc tiền nội chiến Việt Nam phát triển mạnh mẽ nhất. Trước đó, các bài hát Giáng Sinh phần lớn đều được hát bằng tiếng Latin hay tiếng Pháp nên ít người hát được. Vì vậy việc viết và dịch lời Việt bùng nổ. Đến thập niên 60-70 thì những bài tình ca Việt nhân dịp Giáng Sinh đã xuất hiện rất nhiều. Người ta bắt đầu ngâm nga những bài nhạc Việt có hình ảnh Giáng Sinh, xao xuyến đem vào ký ức thế hệ mình. Trong đó phải kể đến Bài Thánh Ca Buồn của Nguyễn Vũ, Hai Mùa Noel của Đài Phương Trang, Con Quỳ Lạy Chúa Trên Trời của Phạm Duy... So với nhiều nước ở Đông Nam Á, Việt Nam là một quốc gia hết sức giàu có giai điệu và niềm vui trong mùa Giáng Sinh. Thật thú vị khi nhiều nơi đang hát vang lời ca tràn đầy tuyết lạnh, nhưng thực tế thì người ta có thể toát mồ hôi với ngày nhiệt đới.

Trong khi những bài hát mới về Giáng Sinh có thể bị lãng quên nhanh, thì ngược lại những bài hát truyền thống thì luôn được đợi chờ trong trí nhớ. George Michael, một trong những ca sĩ thời hiện đại, hiếm hoi được ghi nhớ với bài Last Christmas trong danh sách những bài hát cùng vang lên trong mùa Giáng Sinh, đã tóm tắt "những bài hát vui tươi nhưng thầm lặng nhắc về hạnh phúc đã mất. Và ngay khi bạn từng khổ đau trong quá khứ, thì giờ đây nhớ lại, đó cũng là một cảm giác hạnh phúc của đời người, mà hạnh phúc thì không bao giờ cũ".

Thursday, December 18, 2014

Ngày buồn hiu với bài hát cuối

4583550938_1c6e3276da_z

Còn 4 ngày nữa đến Lễ Giáng Sinh thì Việt Dzũng mất. Anh không kịp mừng lễ Chúa sinh ra lần thứ 55 trong đời mình, không kịp trình diễn 2 bài hát cuối cùng mà anh thu âm tại California. Hai bài hát về đức tin của anh, nỗi sợ hãi và phấn khích, trong đó có những câu hát như lời trối trăng sau cùng.

Ngày 20-12-2013 đó, mới đây mà đã một năm. Tại nghĩa trang Good Shepherd Cemetery, cỏ đã xanh quanh bia mộ. Nụ cười của anh dừng ở tại phiến đá. Bình yên hay khắc khoải, khó ai biết được. Cũng giống như Emily Bronte viết lời kết trong Đỉnh Gió Hú, rằng cỏ xanh và con mắt trần gian khó mà biết được nỗi niềm của người nằm dưới bia mộ đó, có thật sự an nghỉ hay không?

Từ ngày tháng ấy, người Việt hải ngoại ở hai miền Nam Bắc California không còn nghe được tiếng nói của Việt Dzũng trên đài phát thanh mỗi sáng. Giọng cười sảng khoái và cách đọc tin như cấu níu người nghe của anh "mời quý vị quay lại với Việt Dzũng"... như vẫn âm vang đâu đó. Vốn bởi, người ta đã quá quen thuộc sự có mặt của anh bất kỳ trong một chương trình ca nhạc hay sinh hoạt cộng đồng. Khi nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng viết về niên kỷ hồi sinh với một Việt Nam đã dựng nên bên ngoài Việt Nam, theo đó đã có những con người không thể nào quên  của lịch sử, của phận người vận nước, như Việt Dzũng.

Mấy năm trước, một lần được xem anh và ca sĩ Nguyệt Ánh hát ở Houston. Giữa chương trình đang rất sôi động, đột nhiên có khoảnh khắc Việt Dzũng buông micro, thừ người ngay trên sân khấu. Mắt anh buồn. Tôi chụp được giây phút đó, đưa cho anh xem lại và hỏi có phải anh mệt không? Anh cười, "Anh nghe bài Em có mơ một ngày về của chị Ánh, rồi tự hỏi anh có kịp về quê hương mình không".

Việt Dzũng đầy thứ bệnh trong người. Bác sĩ nói bất cứ lúc nào trái tim hay mạch máu của anh đều có thể ngừng lại không cần lý do chính đáng. Vì vậy mà Việt Dzũng tận dụng mọi thời cơ có được trong đời mình để lăn xả vào hoạt động, để sáng tác, hát, gầy dựng một điều gì đó. "Em nghĩ anh có kịp về được Việt Nam không?". Thật khó mà nhìn thẳng vào mắt của anh để trả lời đúng cho câu hỏi này. Dù tôi gật đầu, nhưng ánh mắt thông minh vẫn luôn đầy giễu cợt của anh như xoáy vào, im lặng và thấu hiểu. Đầu năm 2013, trong chuyến lưu diễn ở Úc, Việt Dzũng âm thầm cho in trên mặt đĩa lời chia tay khán giả ở Châu Đại Dương, nói rằng đây sẽ là chuyến lưu diễn cuối cùng của anh.

Về Việt Nam, vẫn là một trong những câu chuyện hay được gợi lên từ Việt Dzũng. Nó cũng là sự khắc khoải của rất nhiều người Việt lìa xa quê hương mà linh hồn như vẫn quẩn quanh nơi chôn nhau cắt rốn. Mỗi khi chứng kiến hay nghe về đề tài này từ những người vọng quốc, tôi vẫn hay rờn rợn trên da, thấm thía một nỗi buồn khó tả. Ngay cả nhạc sĩ Phạm Duy, một con người vẻ như bất cần thế giới, trước khi được chính thức về nước, cũng đã từng thì thầm hỏi qua điện thoại rằng "ở Việt Nam còn ai nghe nhạc của tôi không?". Nghe mà tê tái, không phải cho riêng ai, mà cho một dân tộc và tổ quốc quá đoạn trường.

Trong một lần đi diễn ở Sacramento, Việt Dzũng nghe đồn có một ông thầy Miên coi bói rất hay. Tò  mò, anh chạy đến gặp ông thầy, và chỉ hỏi một câu "khi nào tôi có thể về Việt Nam?". Ông thầy không biết Việt Nam là gì, cũng chẳng màng thế sự, chau mày nói rằng "nếu ông sống qua năm tới, thì 2015 ông có thể về được". Chuyện tưởng như đùa, nhưng Việt Dzũng đã không đi qua được ngày tháng đó. Đường về đã gần qua nắng gió, nhưng xa hơn trong trần thế.

Khi bắt đầu mệt hơn thường lệ, Việt Dzũng nhờ hoà âm gấp hai bài hát để anh hát khi còn sức. Một bài có tên Cùng đi với tôi do anh viết, và bài Đừng sợ của một tác giả trong nước. Trong bài Đừng sợ, nhạc sĩ Việt Dzũng viết lời 2 cho bài hát này, mà anh nói rằng ngẫu hứng từ các sự kiện của giới Công giáo. Còn bài Cùng đi với tôi thì lại là một ca khúc như lời từ biệt. Giọng hát anh yếu hẳn trong bài hát này, dù thu sửa nhiều lần. "Vậy thôi, anh không làm hơn được nữa rồi", Việt Dzũng lắc đầu.

Đừng đi đằng trước xa tôi
Tôi sẽ không theo kịp bước chân người
Đừng đi đằng sau lưng tôi
Tôi sẽ lầm đường lạc lối

Một năm sau, nghe lại bài hát này. Chợt nhận ra anh đã đi rất nhanh. Đã không thể bắt kịp anh rồi.

Hai bài hát như nói thay cho cảm giác cô đơn của Việt Dzũng khi hiểu mình sắp bước vào một chuyến đi xa. Hát với mình, anh tự trấn an về một nỗi sợ mơ hồ của số phận. Anh xin được giao phó linh hồn cho Chúa. Và anh cũng như muốn nhắc mọi người rằng đừng quên người bạn đã chống đôi nạng đi cùng mọi người rong ruỗi qua mọi nẻo đường của yêu thương, lý tưởng và chia sẻ. Bài hát như lời gọi đến những ai quen biết, để bày tỏ, khi thấy không còn kịp nữa.

Nhưng lúc này, làm sao để nói cho anh biết rằng cuộc sống này bỗng buồn hiu, khi mỗi sáng không còn nghe giọng truyền thanh của anh trên Radio Bolsa. Gió đã lạnh ngày cuối năm. Giáng sinh về. Nghe lại bài hát cuối cùng của anh. Viết mảnh giấy nhỏ, đốt và để tro bay theo gió về hướng anh nằm, hướng biển Huntington Beach. Vài chữ để anh đọc: "Thật sự, buồn hiu".


Kỷ niệm một năm ngày nhạc sĩ Việt Dzũng mất
(20-12-2013  /  2014)

--------------------------------------------------------------------

Cùng đi với tôi

https://soundcloud.com/nhacsituankhanh/cung-di-voi-toi
Đừng sợ