Tháng 4/1975 là cột mốc thay đổi rất nhiều thứ của người miền Nam Việt Nam. Đối với giới âm nhạc, đó cũng là một giai đoạn đầy biến động nhưng ít được ghi lại,. Những biến động đó bao gồm ly tán, tuyệt vọng, cái chết và sự nhục nhằn của kiếp người từ một chế độ này, bước sang một chế độ khác.
Rất nhiều nhạc sĩ, ca sĩ của miền Nam đã tìm đường di tản, vượt biên... với hy vọng rằng rồi mình sẽ lại được sống với nghiệp dĩ của mình ở đâu đó. Thật buồn, không phải ai ra đi cũng đã toại nguyện. Nhưng với nhiều người ở lại, cuộc đời đầy những bất ngờ sau đó, có thể còn buồn bã hơn nhiều.
Một trong những nhạc sĩ ở lại trong nước sau 1975 là nhạc sĩ Hoài Linh. Ông là tác giả của vô số những bài bolero có lời lẽ đẹp và sâu sắc như Sầu tím thiệp hồng, Căn nhà màu tím, Xin tròn tuổi loạn... Vốn là trung uý ở Nha cảnh sát quốc gia, nhạc sĩ Hoài Linh cũng mang nhiều nỗi lo về chuyện chế độ mới sẽ thanh trừng mình. Ngay trong những ngày di tản, ông đã dự định cùng gia đình đưa nhau xuống tàu, thế nhưng quá tiếc nuối căn nhà kỷ niệm ở đường Trương Minh Giảng, nơi ông dành dụm qua nhiều năm mới có được, nên rồi ở lại.
Ngày thường, nhạc sĩ Hoài Linh sống rất khiêm tốn và nhã nhặn với mọi người, ít phô trương. Chính vì vậy mà trong hẻm nhà, nên ai cũng thương mến. Khi những nhóm công an khu vực đầu tiên vào Sài Gòn đi điều tra nhân thân của ông Hoài Linh, hàng xóm luôn nói đỡ cho ông, không ai khai chuyện ông là trung uý cảnh sát. Chính vì vậy mà ông Hoài Linh tránh được chuyện đi tù (hay nói theo kiểu Nhà nước Việt Nam là đi học tập cải tạo).
Vốn là một nhạc sĩ thành danh, được trọng vọng, cũng như đang sung sức làm việc, bất ngờ bị đảo lộn mọi thứ, nhạc sĩ Hoài Linh mang một tâm trạng bất đắc chí cho đến tận lúc qua đời. Sau năm 1975, nhạc sĩ Hoài Linh dành trọn tâm huyết của mình cho việc viết thánh nhạc, phục vụ cho nhà thờ. Gia đình cho biết ông cũng từ bỏ y định vượt biên khi thấy số người tuyệt mạng trên biển quá nhiều.
Một lần đón các em nhỏ đến nhà tập hát thánh ca cho nhà thờ, nhạc sĩ Hoài Linh bị công an khu vực đến yêu cầu chấm dứt "tụ tập đông người", ông buồn bực vô cùng nhưng cũng phải đành làm theo. Đầu năm 1995, ông trở bệnh nặng. Thật là ngẫu nhiên nhưng cũng đầy ý nghĩa, ngày 30-4-1995, nhạc sĩ Hoài Linh lìa đời, để lại một sự thương tiếc cho nhiều người miền Nam. Dĩ nhiên, báo chí của chế độ mới không hề đưa một dòng tin nào.
Do không đi học tập, nên nhạc sĩ Hoài Linh bị nhiều người cho rằng có thể ông là Việt Cộng nằm vùng, thế nhưng khi còn sống, nhạc sĩ Hoài Linh không bao giờ buồn đính chính. Một trường hợp khác tương tự là nhạc sĩ Anh Việt Thu. Dù nhạc sĩ Anh Việt Thu mất năm 1973, nhưng ông vẫn bị mang tiếng là Việt Cộng nằm vùng do có một người em đi tập kết theo cộng sản ở miền Bắc, cũng như có bạn là nhà thơ Thiên Hà, là Việt Cộng. Nhưng giờ thì điều đó có thể lý giải được: sau năm 1975, rất nhiều bài hát của nhạc sĩ Anh Việt Thu cũng đã không được phép lưu hành.
Không ai có thể hình dung được đời mình và người Cộng sản từ miền Bắc đã gây ảnh hưởng như thế nào. Chẳng hạn như nhạc sĩ Lê Văn Thiện không bao giờ hình dung được người vợ không hôn thú của mình (bà Ngọc) là thành phần khủng bố ở nội đô. Bà Ngọc đem mìn hẹn giờ đến cài ở nhà hàng Liberty, đường Tự Do, để giết một vài lính Mỹ. Thế rồi bị trục trặc, chính bà cũng bị mìn giết chết tại chỗ, còn chỉ huy của bà là ông Sáu Hỏi (sau 1975 về làm quan chức ngành văn hoá ở quận 5) thì cao chạy xa bay.
Tâm trạng trầm uất và chỉ cầu mong sống để làm việc, lo cho gia đình là khuynh hướng chung của rất nhiều nhạc sĩ miền Nam đã sống trong chế độ VNCH. Nhạc sĩ Thanh Sơn, Mặc Thế Nhân, Hoàng Trang... tìm cách quy ẩn. Còn những nhạc sĩ như Lê Hựu Hà, Y Vân... thì được tuyển dụng làm cho các đoàn ca nhạc mới. Có miễn cưỡng nhưng chỉ còn đó là sinh lộ cuối cùng nên các ông đành nương theo mà sống. Lúc sinh thời, nhạc sĩ Y Vân cũng rất buồn bã sau ngày 30-4, nhất là khi một người bạn thân đi vượt biển mất tích. Ông tâm sự với vợ con rằng giờ chỉ còn biết làm để gia đình không lâm vào cảnh đói khổ mà thôi. Và có lẽ cũng do làm việc lao lực ngày đêm, năm 1992 nhạc sĩ Y Vân qua đời. Nhạc sĩ Lê Hựu Hà cũng không khác gì. Những năm ông đi trình diễn trên sân khấu, rất nhiều khán giả gửi giấy lên yêu cầu các bài hát thời ban nhạc Phượng Hoàng của ông. Thế nhưng Lê Hựu Hà đành từ chối khéo, sau đó quay vào trong với ánh mắt buồn thăm thẳm: nhiều bài hát của ông cho đến năm 2003, tức năm ông qua đời, vẫn chưa được những người Cộng sản cho phép lưu hành trở lại.
Nhiều nhạc sĩ không thích nghi được đời sống của chế độ mới nên cũng qua đời trong nghèo khổ như nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang, Trúc Phương, Thanh Bình, Châu Kỳ... Nhiều năm bị bạc đãi ở các phòng văn hoá kiểm duyệt theo chính sách thanh lọc văn hoá của chế độ cũ, hầu hết những nhạc sĩ của miền Nam Việt Nam còn bị báo chí Nhà nước ghẻ lạnh vì tuân theo các chính sách tuyên truyền của ban tuyên giáo. Trong khi đó, khác với giới biểu diễn của chế độ mới thì được tạo điều kiện để ca tụng, quảng bá lắm lúc trơ trẽn.
Khá nhiều nhạc sĩ trước 30-4 là sĩ quan phòng tâm lý chiến, là quân nhân VNCH, nên chuyện đi tù cải tạo là điều dễ hiểu. Những ngày tháng trong trại tù cải tạo Hà Tây, nhạc sĩ Vũ Thành An cũng vì đói, vì sợ đòn nên đã khuất phục, trở thành tai mắt của cán bộ quản giáo và bị anh em trong trại căm ghét. Mãi sau do quá ăn năn, ông đã xin được rửa tội đi tu theo đạo Công giáo ngay trong trại tù. Đó là lý do mà nhiều năm sau khi xuất cảnh sang Mỹ, nhạc sĩ Vũ Thành An mới quay lại với âm nhạc, dùng Đời Đá Vàng như một lời tâm tình đầy đau đớn cho cuộc sống mà ông đã trãi qua.
Nói về kết thúc trong trại tù, không thể không kể đến nhạc sĩ Minh Kỳ. Vốn là đại uý cảnh sát, nhạc sĩ Minh Kỳ cũng bị dồn vào trại cải tạo ở Biên Hoà. Bốn tháng sau ngày 30-4, khi đang ngồi ăn trong trại, cả nhóm sĩ quan của ông bị ai đó ném lựu đạn vào giữa, khiến thương vong mười mấy người. Nhạc sĩ Minh Kỳ hấp hối, đẫm máu, chỉ có lời với anh em trong trại là nhắn giùm với gia đình rằng ông đã chết, rồi sau đó xuôi tay. Không rõ mộ của ông sau này có cải táng hay không, vì khi chôn cất sơ sài, cán bộ quản giáo chỉ để bảng ghi tên người chết là Vĩnh Mỹ, tức tên thật của ông, chứ không hề biết đó là một nhạc sĩ tài hoa hàng đầu của nước Việt.
30-4-1975 là một cột mốc của nhiều điều, mà có lẽ nhiều thập niên nữa người Việt mới biết tường tận sự thật. Và có lẽ cũng nhiều năm nữa, những trang sử nhạc còn phải ghi chú thêm những điều chưa kể hết, mà vốn nỗi buồn gần nửa thế kỷ vẫn phủ tối cả quê hương.
(Ảnh từ trái quá: Nhạc sĩ Hoài Linh & Minh Kỳ)
Showing posts with label tự do. Show all posts
Showing posts with label tự do. Show all posts
Sunday, April 26, 2015
Monday, January 12, 2015
Thế kỷ kết liễu độc tài

Những ngày của đầu năm 2015, tin tức về cái chết của Fidel Castro, nhà lãnh đạo cộng sản khét tiếng của Châu Mỹ Latin đang được lan truyền khắp nơi. Có thể đó chỉ là tin đồn. Có thể ông ta đã chết nhưng đảng cộng sản Cuba đang chọn tìm một thời điểm thích hợp để công bố, như số phận của nhiều nhà lãnh đạo cộng sản khác. Cũng có thể tin đồn đó chỉ là cách phản ánh một tâm thức chán ghét của của đám đông về nhân vật này. Nhưng điều quan trọng hơn, với những gì đang diễn ra ở Cuba, thì ý nghĩa tồn tại thể chất của nhà độc tài cộng sản 88 tuổi không còn quan trọng: Trong mắt loài người văn minh, Fidel Castro kể như đã chết.
Cũng giống như nhiều lãnh tụ cộng sản háo danh khác, Fidel Castro cũng thích nhảy múa cùng những huyền thoại của mình, để ông được "sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta". Một trong những huyền thoại hay được sách vở Cuba tuyên truyền rầm rộ là ông đã phá vỡ được đến 638 vụ ám sát của CIA Mỹ tổ chức nhằm vào ông. Những vụ ám sát được công bố qua các phương thức như bỏ thuốc độc, nổ xì-gà... rất ư là 007. Với theo nhiều tài liệu phân tích của các sử gia, thì đa số là do các tổ chức Cuba phản kháng lưu vong tìm cách thực hiện. Nhưng điều đáng nói nhất, thì người dân Cuba ít được phép nhắc đến, đó là Fidel Castro đã cai trị dân tộc mình bằng máu và nước mắt hơn nửa thế kỷ.
Không chỉ riêng ở Cuba, mà ngay ở Việt Nam, các giáo viên dạy sử cũng được nhận lệnh gia công cho các huyền thoại này. Trong một giờ dạy về lịch sử quốc tế, tôi còn nhớ mình phải học thuộc lòng rằng Cuba như chỉ sinh ra từ Fidel Castro và chủ nghĩa cộng sản. Người thầy dạy sử, mà tôi tin chắc rằng ông ta chưa bao giờ được một lần đặt chân đến Cuba, đã say mê thuyết phục những đứa học trò trung học chúng tôi rằng nơi đó là thiên đường, và Fidel là một kỳ nhân của thế gian khi cải tạo đất nước này sang hình thái xã hội chủ nghĩa.
Ở thiên đường đó, mà tôi cũng từng mơ màng trong suốt nhiều năm, có những điều thật trớ trêu. Hơn một triệu người dân Cuba không chấp nhận cộng sản, chọn cách ra đi đã hàng năm gửi về cho thân nhân của họ hơn 1 tỷ USD kiều hối, tương đương với 35% ngoại tệ thu về hàng năm của cả nước, giúp nền kinh tế này thoi thóp sống. Nơi quốc gia này, nhân viên nhà nước làm việc cho chính phủ, chỉ có được mức lương trung bình khoảng 15 USD/tháng nhưng phí điện thoại di động là 40 USD/ tháng. Tôi không có dịp gặp lại người thầy của mình để hỏi lại cảm giác của ông về những tin tức như năm 2014, người dân Cuba mới bắt đầu được đi du lịch nước ngoài mà không còn cần phải làm bản trả lời thẩm vấn nộp cho công an địa phương. Hoặc chỉ để nhìn lại ông, khi chìa cho ông bản tin chính báo chí Việt Nam đăng tải, rằng các phát minh của thế kỷ 20 như tivi màu, internet... người dân Cuba chỉ được chạm đến trong thế kỷ 21.
Năm 1961, sau một thời gian làm cách mạng lật đổ chế độ thân Mỹ của tổng thống Fulgencio Batista, Fidel Castro tuyên bố mình đi theo chủ nghĩa cộng sản, đưa đất nước này vào bóng đêm tăm tối của chế độ độc tài toàn trị. Dù được ca ngợi là thành tựu ở một vài lãnh vực như y khoa, kiểm soát tội phạm... nhưng đất nước Cuba cũng được nhắc đến về cuộc sống rên siết trong vòng vây của chế độ cộng sản. Một chế độ mà chính chủ tịch mới, ông Raul Castro đã phải thú nhận trước quốc hội vào tháng 4/2011, rằng « Hoặc là chúng ta sửa đổi, hoặc như thế là hết. Chúng ta không còn có thể đi men theo bờ vực thẳm, chúng ta sẽ chìm đắm, và cùng chìm theo ta là nỗ lực của bao nhiêu thế hệ ».
Triều đại bàn tay sắt của Fidel Castro vẫn còn được được mô tả trong bản báo cáo về nhân quyền năm 2009, qua lời của Rodolfo Bartelemí Coba, một nhà tranh đấu cho quyền con người, rằng "Chúng ta sống 24 giờ một ngày, mà vốn đã được chuẩn bị sẵn sàng để bị giam giữ". 10 ngày sau lời phát biểu này, ông Rodolfo cũng đã bị bắt đi mất tích.
Sự tàn bạo của chính quyền cộng sản Cuba, thông qua Lực Lượng Vũ Trang Cách Mạng (FAR) là đề tài kinh hoàng của những người vượt thoát khỏi Cuba. Theo hồ sơ của Hiệp hội Đồng hương Mỹ-Cuba (Cuban American National Foundation) thì từ sau khi Fidel Castro cầm quyền, đã có khoảng 12.000 đối lập chính trị bị bắn, chôn sống hoặc tra tấn đến chết. Nhưng các tài liệu ngoài tiếng Tây Ban Nha thì cho biết số lượng những nạn nhân này có thể lên đến 17.000 người, chỉ tính riêng từ năm 1959 đến 1990.
Một bản tin về chuyện ngay sau khi Mỹ bỏ cấm vận với Cuba vào 17/12/2014 vừa rồi, cũng như tin tức chủ tịch Raul Castro ký trả tự do cho 35 nhà đối lập trong danh sách 100 người được quốc tế đề nghị (8/1/2015), số người đào thoát khỏi Cuba vẫn tăng đến 117%. Dù tự do và thay đổi đang ở ngay trước mặt nhưng người dân Cuba đã không còn kiên nhẫn để chờ đợi nữa. Họ làm mọi cách để chạm vào tự do ngay khi hàng rào kẽm gai vừa lỏng lẻo chứ không còn kiên nhẫn và cam chịu để chờ đến khi hàng rào đó sụp đổ. Không thể đợi Fidel chết và chế độ cộng sản Cuba sụp đổ trên bản đồ chính trị, người dân muốn tiễn đưa ngay cơn ác mộng của đời mình bằng hành động cụ thể nhất.
Khác với các nhân vật như đại tá Gaddafi hay tổng thống Mubarak, các nhà lãnh đạo cộng sản vẫn hay lên tiếng tố cáo sự tư hữu xa hoa của chế độ phương Tây, bày tỏ cuộc sống khiêm tốn của mình. Nhưng khi mọi thứ được phơi bày, người dân mới té ngửa khi biết rằng mọi thứ đều là dối trá. Chính các nhà lãnh đạo cộng sản là kẻ tham nhũng ghê sợ nhất, xa hoa nhất trên tấm lưng còng của tổ quốc mình. Theo tiết lộ từ cuốn La Vie Cachée de Fidel Castro (tạm dịch: Cuộc đời bí ẩn của Fidel), một nhân viên cận vệ của Fidel Castro kể rằng nhà lãnh tụ này chưa bao giờ từ bỏ lối sống tiện nghi tư bản mà ông ta vẫn hay lên truyền hình nguyền rủa nó. Juan Reinaldo Sánchez, người đã làm cận vệ riêng cho Fidel trong suốt 17 năm, sau đó đào thoát qua Mỹ, tiết lộ rằng dân cả nước Cuba không thể nào hình dung nổi cuộc sống sang trọng phung phí của Fidel. Thậm chí Fidel Castro còn quy hoạch một hòn đảo nhỏ thành của riêng cho mình, đảo Cato Piedra, nằm ở phía nam của Vịnh con Heo. Juan nói rằng nơi đó được Fidel Castro xây dựng như một vườn địa đàng, đầy những trại nuôi rùa biển và cá heo.
Thế kỷ 20 và 21 đã chứng kiến nhiều cuộc kết liễu độc tài. Từ Stalin đến Mao Trạch Đông... rồi Kim Chính Nhật đến Gaddafi... giờ thì đã rất gần với Fidel Castro, nhân vật bạo chúa được khoác áo người hùng trong vai diễn của lịch sử cộng sản thế giới. Như một quy luật không thể thay đổi: bất cứ chế độc tài nào rồi cũng phải ra đi, dù đi nhanh hay đi chậm. Thế kỷ như đang kết liễu những nhà độc tài, những nhà nước độc tài núp bóng vì nhân dân, vì tổ quốc. Những người như tôi cũng có dịp để kết liễu những bài học lịch sử nhồi sọ của mình, để ghi vào đó, một trang sử mới bằng tên của những người yêu nước Cuba đã chết cho quê hương của họ được tự do.
Wednesday, January 7, 2015
Tự do và sợ hãi

Một trong những bộ phim đáng nhớ của đầu năm 2015 này, đó là chuyện kể của đạo diễn Ridley Scott về cuộc di dân của gần 400.000 người Do Thái về miền đất hứa, khao khát thoát khỏi ách nô lệ của Ai Cập. Bộ phim vẽ lại một hành trình dài của con người muốn vượt thoát sự thống trị, thoát khỏi sợ hãi để đến bến tự do. Mọi thứ được đánh đổi, chấp nhận để cái có được mơ hồ nhưng kiêu hãnh: sự tự do của bản thân mình, dân tộc mình. Bộ phim Exodus: Gods and Kings có thể làm cho bất kỳ một dân tộc nào đang bị đàn áp trên thế giới phải rơi nước mắt cùng hy vọng.
Đây lại là một siêu phẩm của Hollywood với ngân sách lên đến 140 triệu USD, tuy nhiên chỉ trong 4 tuần công chiếu, bộ phim này đã thu về hơn 60 triệu USD. Diễn viên Christian Bale tiếp tục lại chinh phục khán giả với vai diễn khắc nghiệt, diễn đạt nhân vật Moses, người khởi xướng cuộc cách mạng, dẫn dắt hàng trăm ngàn người Do Thái bước qua sợ hãi, đoàn kết và thoát khỏi sự thống trị tưởng chừng như muôn đời qua các đời Pharaoh Ai Cập. Dù ở bên cạnh Ai Cập, những con người Do Thái nhục nhằn và cam chịu không bao giờ coi biên giới đó là sự hữu nghị cần thiết hay lời cam kết chấp nhận cúi đầu. Thật khó tả cảm giác về cảnh Ramses, Pharaoh đương thời của Ai Cập ra lệnh mỗi ngày hành quyết một gia đình người Do Thái, cho đến khi nào người Do Thái tự nguyện tố giác và giao nộp Moses cho triều đình. Như mọi ví dụ về các chế độ độc tài của lịch sử chống lại loài người, Ramses muốn gieo rắc sự sợ hãi để trấn áp người dân để cai trị, gieo rắc sự khủng bố để bảo vệ quyền lực của mình. Thế nhưng, khi những người Do Thái gầy gò, mệt mỏi quay về từ buổi hành hình, người ta không nghe tiếng khóc trẻ con, tiếng than thở… mà chỉ có tiếng thì thầm “hãy giúp cho tôi vũ khí, tôi muốn chiến đấu”.
Phút giây ngắn ngủ đó, nhắc nhở muôn vạn điều. Khi vượt qua sợ hãi và nghĩ đến điều cần phải hành động cho tự do, cho tương lai, mọi dân tộc trên thế giới này đều có những biên niên sử vĩ đại. Năm 73 trước Công nguyên, gã nô lệ Spartacus người Thracia lãnh đạo đoàn chiến binh nô lệ trở thành nỗi kinh hoàng của đế chế La Mã. Năm 1258, hàng ngàn người dân nhà Trần quyết cùng thực hiện kế sách ‘thanh dã’ (vườn không nhà trống), hy sinh mọi thứ để đối đầu với 30.000 quân Mông Cổ bách chiến bách thắng của Ngột Lương Hợp Thai, để giành tự do cho quê nhà. Đâu đâu cũng vậy, khi một dân tộc cùng với những người đứng đầu không hèn hạ, không thỏa hiệp, thì không có nỗi sợ hãi nào có thể ngăn họ nghĩ đến tương lai bằng sức mạnh danh dự.
Khi đoàn người của Moses đứng trước biển biển Đỏ, sóng dữ và bao la. Đằng sau thì đoàn chiến xa của vua Ramses đang đến gần. Có những người dân đã kinh hoàng la lên “tại sao chúng ta không quay lại Ai Cập, có là nô lệ thì chúng ta cũng có cái ăn, và không bị giết”. Không có câu trả lời cho những lý luận đó. Những lý luận đã trở thành đương thời của thế kỷ 21 khi con người quen việc phủ lên sự đê hèn của mình bằng ngôn từ nhung lụa. Đạo diễn Ridley Scott đã dùng hình ảnh để trả lời tất cả. Những người đàn bà ôm con nhỏ lao thẳng vào dòng nước. Những cụ già chống gập khập khiễng bước đi. Nếu biển không cạn để gần nửa triệu người đó băng qua, họ đã chết. Lịch sử sẽ ghi lại một câu chuyện thương tâm rằng vào thời cổ đại Ai Cập, 1.300 năm trước Công nguyên, người Do Thái đã chọn cái chết chứ không chịu làm nô lệ.
Trong chuyện cổ tiếng Hebrews, Chúa đã làm phép tách biển làm đôi để người Do Thái tìm đến tự do. Nhưng trong cách kể chuyện không bị lệ thuộc vào tín ngưỡng của đạo diễn Ridley Scott, ông đã diễn đạt bằng khoa học rằng chính các vòi rồng vào thời điểm đó đã hút nước biển cạn trong một khoảng thời gian và tạo nên một sinh lộ thần kỳ cho người Do Thái trước khi quân Ai Cập ập đến. khi được hỏi về phân đoạn này, Ridley Scott nói trên tờ Esquire rằng “tín ngưỡng chính là nguồn gốc lớn nhất của sự dữ. Con người bị xâu xé bởi ý nghĩa chúa trời riêng của mình, thế nhưng trớ trêu thay thượng đế chỉ có một”. Vốn là người theo tin thuyết bất khả tri, Ridley Scott tin rằng cuộc vượt thoát đầy tính sử thi đó, duy nhất bắt nguồn từ niềm tin vào tự do và lòng quả cảm vượt qua sợ hãi của người Do Thái.
Phim Exodus: Gods and Kings không có kết thúc. Hành trình của ông Moses và những người dân Do Thái còn miệt mài. Ông ra đi khi là một dũng sĩ cho đến khi tóc bạc phơ, run rẩy trên chiếc xe về vùng đất hứa. Câu chuyện như một ẩn dụ về hành trình đến tự do của mỗi dân tộc không bao giờ có đoạn kết. Tự do là cuộc tìm kiếm không ngừng, ngay cả khi những nhà lãnh đạo lừa dối bạn rằng tự do đang ở cùng bạn. Miến Điện hay Cuba có thể khác ngày hôm qua, nhưng tự do vẫn còn ở xa xa phía trước. Tự do là con đường chứ chưa bao giờ là đích đến trên thế gian này. Tự do chỉ hiển hiện với những con người đi tim nó, chứ không thể là miếng ăn sợ hãi và nỗi nhục nhằn sống trong nô lệ ở trước bờ biển Đỏ ầm ầm sóng.
Thursday, July 10, 2014
Người Việt không mến yêu

Năm 2011, trong một bài thơ đọc ở buổi tốt nghiệp tại đại học UC Davis, Mỹ, sinh viên Fong Trần đã làm nhiều người xôn xao khi anh mô tả trong đó một chặng đường dài những suy nghĩ về tính cách của cộng đồng Việt Nam. Bài thơ có tên “_Tôi ghét làm người Việt Nam”.
Fong Trần là một nhà thơ trẻ được nhiều người biết đến, và cũng từng được báo Sacramento Bee, California giới thiệu. Phóng viên Thiên An của báo Người Việt ở hải ngoại cũng có viết một bài về sự kiện này. Fong Trần viết trong bài thơ của mình anh phải mất nhiều thời gian lắm để vượt qua nỗi cay đắng tại sao mình lại là người Việt, và rất vất vả mới lấy lại được niềm tin về chủng tộc.
Không phải chỉ riêng Fong Trần, sự chán nản của người Việt với tính cách của người Việt ngay trong nước cũng bộc lộ ngày càng nhiều, qua việc nhìn thấy các câu chuyện trên internet, qua những điều được vẽ nên trên báo chí truyền hình... người Việt giờ đây dường như không còn mến yêu như trong ánh mắt của nhiều người, ngay cả cùng giống nòi.
Một người bạn hay sử dụng internet nói với tôi rằng, chưa bao giờ ông thấy việc nhắc lại, đăng lại, gửi cho nhau... những hình ảnh của Việt Nam xưa nhiều như lúc này. Những bức ảnh ghi lại từng con phố, dáng người, địa danh... kèm theo những câu tấm tắc chứa đầy những điều đáng suy nghĩ “người Việt xưa của mình sao hay quá vậy”. Ẩn trong những câu nói đó, có lẽ là một sự nuối tiếc đăng đẳng. Những cuộc trò chuyện hoài niệm như vậy thường kéo theo những điều so sánh về thế hệ hôm nay, Việt nam hôm nay, với những nhận định muộn phiền và nhiều tranh cãi.
Người Việt hôm nay có lẽ đã ăn ngon, mặc đẹp hơn. Nhưng trái tim giận dữ và khó lường. Trên các trang báo kể lại chuyện một người bị đâm chết chỉ vì dai dẳng đùa với hai chữ “đắng lòng”. Cũng có tin các thanh niên giết nhau chỉ vì bị “nhìn đểu”. Sự phập phồng bất an về tính cách người Việt hiện ra trong các bản tin. Những bài viết ngợi ca con người Việt Nam hiền lành, chất phác, dễ gần... như đang chỉ còn là trong kỷ niệm.
Fong Trần nói trong bài thơ rằng anh chán ghét người Việt khi còn bé, vì người Việt hay nhậu nhẹt, người Việt hay bỏ bê con cái... và anh mất một thời gian dài để tự cứu mình không mất đi ý thức chủng tộc khi tìm ra rằng quá khứ của người Việt rất đẹp, và người Việt vẫn có những điều sâu xa níu giữ anh, trước khi anh quá ngao ngán những biểu hiện hằng ngày trong cộng đồng. Fong Trần nói vì ở quá xa quê hương nên cú sốc đó đã xảy ra trước khi anh tìm về lại được cội nguồn trong tâm thức.
Hoá ra người Việt ở đâu cũng vậy. Nhưng nếu hôm nay Fong Trần đứng trên quê hương của mình, có thể anh sẽ “sốc” trở lại, nhiều hơn nữa. Bên cạnh những thói hư tật xấu nho nhỏ mà nhà văn Vương Trí Nhàn vẫn viết ra từng phần, người Việt hôm nay, dù được ở kề bên cội nguồn của mình cũng vẫn ngày càng lạ hơn, vô tâm hơn, thậm chí là đáng ghê sợ hơn.
Sách xưa Quốc văn giáo khoa thư có dạy rằng đi ngang đám tang nhớ nhường đường và cúi chào người đã khuất. Lúc còn bé, tôi vẫn nhớ những khi mẹ tôi giằng tay tôi lại khi đi đường và nhắc nhường lối cho một đám tang. Tôi mang sự tử tế nhỏ bé đó, được khắc ghi từ thế hệ trước vào lòng mình và sửng sốt ở ngày nhìn thấy đám thanh niên đi trên xe hơi, bóp kèn đi qua một đám tang, thậm chí có người còn thò đầu ra văng tục. Tôi và những thanh niên đó chắc ít khi nào viết sai chính tả, thậm chí tiện nghi và hưởng thụ hơn thế hệ trước biết bao lần. Chính bản thân tôi cũng đã phải ngẫm nghĩ nhiều về chuyện thân phận người Việt của mình. Mẹ tôi, một người phụ nữ Sài Gòn viết đầy những lỗi chính tả và ít hiểu biết về loài người, nhưng phải chăng bà đã có một đời sống đáng tự hào hơn trong một thế hệ Việt Nam bị phai nhạt, so với tôi bây giờ?
Nhiều lần, trên mạng internet, tôi đọc thấy những câu chuyện mà mọi người kể cho nhau nghe về sự tử tế của cảnh sát, của chính quyền hay con người từ quốc gia nào đó. Những câu chuyện mang tính so sánh với hiện thực Việt Nam kèm với những lời mỉa mai đủ để thức và trằn trọc vì sao dân tộc, tổ quốc mình với 39 năm thống nhất trong hành trình Cộng sản, luôn vỗ ngực tự xưng là “ưu việt”, lại đến nông nổi này.
Đúng là con người Việt Nam đang đổi thay, từ quần chúng ngu ngơ cho đến những người đại diện chính quyền. Thậm chí, trong rất nhiều sự kiện, công an, dân phòng, nhân viên hành chánh công quyền… đang đại diện cho một sự hỗn loạn của đất nước này. Cả thế giới đang nhìn thấy người Việt đang biến đổi dị hình qua nhiều năm tháng được giáo dục với tinh thần cộng sản chủ nghĩa. Dân Việt bị cảnh báo như kẻ xấu ở nhiều nước. Người Nhật nhìn các quan chức Việt Nam như “giòi bọ”, Charlie Pryor, một nhà sản xuất truyền thông kiêm nhà văn, viết trên trang blog của mình rằng cảnh sát giao thông là những cướp đường mạt hạng…
Cũng trên các trang báo, tôi nhìn thấy câu chuyện ở Phú Yên, với 4 công an viên đánh đập đến chết một người vô tội, mà các trang báo ghi lại rằng họ bất chấp lời van xin của nạn nhân. Lòng tôi quặn thắt khi nhìn thấy đứa con gái nhỏ hôn lên di ảnh của ba mình. Trái tim Việt Nam hồn nhiên đã rạn nứt ngay từ khi thơ dại. Cũng trên các trang báo, tôi nhìn thấy ở Gia Lai hình ảnh một người phụ nữ uất ức quỳ lạy xin hai chữ công tâm trước cửa toà án, cho một vụ án oan. Dáng người phụ nữ đó không khác gì một người mẹ của tôi, hay của bạn vậy. Những nhân viên nhà nước đó đã được giáo dục điều gì, đã thụ hưởng những gì khi tự mình cào xé hai chữ đồng bào ra khỏi tim mình và tự biến mình thành dã thú trước đồng loại?
Những chuyện như vậy dường như qua nhanh trong tâm trí người Việt, không gây được được quan tâm bằng chuyện một nữ diễn viên bước ra đường quên mặc áo lót. Người Việt còn nghĩ đến nhau trong tình đồng bào nữa không? Những thương tâm đó đã không còn chấn động lòng người nữa rồi? Nhất là ở những người có chức phận? Hay đã có một âm mưu tiêu diệt tình đồng bào nào đó, được dựng nên từ trong bóng tối, để hôm nay, người Việt không còn mến yêu. Người Việt hút máu nhau trên các ngã tư đường, người Việt được vỗ béo và được huấn luyện giỏi, để nhe nanh cắn đồng bào của mình, khi họ xuống đường chống ngoại xâm?
Tôi đọc đâu đó, người ta tạm lý giải rằng người Việt hôm nay giận dữ vì sự phân hoá giàu nghèo đã quá lớn, hoặc đã điên cuồng vì duy vật chất. Đời sống xa hoa của một lớp người bày ra trước mắt đám đông nghẹn ngào từng bữa khó khăn đang là bóng đen tiềm ẩn, xô con người vào những hỗn loạn không thể kiềm chế. Nhưng có phải vậy không? Lịch sử người Việt đã trải qua bao khốn khó, kể cả chiến tranh, hận thù... nhưng có là lạ lùng như hôm nay?
Câu hỏi này tự tôi không thể đủ sức trả lời. Tôi chỉ muốn sẻ chia một suy nghĩ, về nước Việt và người Việt tôi mến yêu trong kiếp sống không có quyền chọn lựa. Tôi muốn nhìn thấy, muốn được ôm chặt những gì mình đã biết và thương nhớ, nhưng mọi thứ đang dường như sụp đổ quanh tôi chầm chậm, rõ ràng. Và tôi cũng muốn hỏi bạn rằng, liệu có phải người Việt hôm nay, vì lẽ gì, đã không còn đủ phẩm chất để còn được mến yêu?
-----------------------------------
Tham khảo thêm
1. http://tin8.vn/bai-viet/blogger-my-toi-ghet-csgt-viet-nam-4455
2. http://webcache.googleusercontent.com/search?q=cache:knc4I7pSX5QJ:www.conongviet.com/ChinhTri/web271208-chua%2520bao%2520gio%2520nguoi%2520viet%2520nam%2520mang%2520nhuc%2520voi%2520the%2520gioi%2520nhu%2520bay%2520gio.htm+&cd=1&hl=en&ct=clnk&gl=vn&client=firefox-a
3. http://vietnamtourism.com.vn/news/vn/detail/112/23176/
Tuesday, April 8, 2014
Bức ảnh với đôi mắt liếc
[caption id="" align="alignnone" width="2000" caption="(Từ trái qua) Chị Phượng, anh Truyễn và tác giả"]
[/caption]
Trong tất cả những bức ảnh mà tôi có, bức ảnh chụp chung với vợ chồng anh Nguyễn Bắc Truyễn, là một bức ảnh có điều rất lạ. Bức ảnh chụp vào một buổi sáng đầu hè, nắng nhẹ nhàng lên cao. Ánh nắng hắt vào gương mặt từng người, dễ dàng thấy được điều đó. Tôi vẫn nhìn đi nhìn lại bức ảnh nhiều lần, trong đó, đôi mắt liếc của chị Phượng là điểm phá hỏng không gian của tấm ảnh, đã luôn làm tôi ngẫm nghĩ.
Với những nhà nhiếp ảnh, đó là một tấm ảnh sai kỹ thuật, đáng vứt đi. Nhưng với tôi, thì đó lại là một bức ảnh ẩn chứa một câu chuyện dài của đời người. Bức ảnh như một chứng vật của thời đại, mà mai sau có thể trở thành giáo khoa uẩn khúc về số phận con người nơi quê hương đang chập chùng, đầy những điều phải lo âu lúc này.
Lý do của đôi mắt liếc ấy, tôi nhớ, là khi chúng tôi đứng kề nhau và nhờ cháu Nhi, con của tù nhân chính trị Nguyễn Văn Răng (anh Răng đang chịu án tại trại Xuân Lộc, Đồng Nai) chụp giùm. Ngay khi đó, có bóng một người đàn ông bước qua cửa, và nhìn chúng tôi.
Tôi nghĩ, và có lẽ cả 3 cùng nghĩ, “lại là một an ninh chìm nhìn ngó”.
Anh Truyễn có lẽ nhìn thấy, nhưng với anh, thì chắc đã quá quen với những cảnh như vậy. Tôi thì chỉ biết nhìn người lạ đó một cách vô tri, nhưng chị Phượng thì bất ngờ linh hoạt, im lặng căng người quan sát, cho đến khi người lạ đó khuất dạng. Bản năng của riêng một người phụ nữ hay của cả loài người trước những hiểm nguy, khiến họ trở nên nhanh nhạy bất thường. Nhất là từ khi chị Phượng yêu một người đàn ông có thái độ chính trị đối lập với nhà nước Việt Nam, vốn đã trãi qua những điều kinh hãi, nghi hoặc, nên đã trở thành bản năng với những gì bất thường chung quanh mình.
Anh Truyễn và chị Phượng gặp và yêu nhau ở hoàn cảnh thật trớ trêu, nhưng nhiều đồng cảm. Chị Phượng là một tín đồ Hoà Hảo ở Lấp Vò, Đồng Tháp, một vùng mà công an chưa bao giờ có thể là bạn, còn anh Truyễn là một người tranh đấu tự do, cũng đã trãi qua những cam go khó tưởng được. Dù mới biết nhau, Anh Truyễn và chị Phượng đã sớm chia nhau nỗi đau về phận làm người trên nước mình. Mới đây thôi, ngày 24-2-2014, khi cùng nhau đến tòa đại sứ Úc ở Hà Nội, an ninh chìm đã xông đến đánh anh Truyễn mặt bê bết máu, mắt sưng bầm, nằm gục giữa đường. Và dù là phụ nữ, chị Phượng cũng bị đấm vào mặt, suýt ngất. Đám đông xuất hiện can thiệp, an ninh bỏ đi. Người ta kể rằng chị Phượng với 2 dòng nước mắt lăn dài, nhưng vẫn kiên cường dìu chồng của mình đứng lên để tiếp tục đi.
Trước đó, ở ngay tại nhà mình. Chị Phượng chứng kiến tình yêu của mình có cái giá như thế nào. Ngày 9-2, hàng trăm công an xông vào nhà chị đập phá, đánh người rồi giải đi. Hàng xóm chung quanh kinh hoàng. Liên tục nhiều đêm sau, những bóng đen ngang nhiên leo vào nhà chị tìm cách phá hoại đời sống, khủng bố tinh thần. Những người phụ nữ trong nhà thì hoảng sợ, im lặng, ngồi cố thủ trong nhà.
Nhưng anh Truyễn không vì sợ hãi mà ngừng lại. Cái ngày tôi gặp anh Nguyễn Bắc Truyễn và chị Bùi Thị Kim Phượng ở Saigon, là ngày anh Truyễn vẫn ráo riết chạy vạy, tìm cách làm cái gì đó để giúp cho các con em của tù nhân chính trị đang gặp khó khăn. Chị Phượng vẫn ở đó, bên cạnh anh. Ánh mắt chị vô cùng dịu dàng và tự hào khi nhìn anh Truyễn nói chuyện với tôi. Đó là một trong những ánh mắt có giá trị xác tín ở tình yêu, lớn lao nhất, mà tôi có thể chứng kiến trong đời mình.
Và cũng ánh mắt đó, trong phút giây tích tắc của bức ảnh ghi lại, tôi nhìn thấy ánh chớp của người đàn bà đã bước qua sóng gió và nay sẳn sàng lao ra để đối phó, che chắn cho tình yêu của mình. Đôi mắt liếc, sắc và không hề sợ hãi đó, tôi nhìn đi nhìn lại và mỉm cười: Tấm ảnh đã nói quá nhiều điều.
Tôi gửi bức ảnh đó cho một người bạn ở nước ngoài, nhờ giữ giùm như một kỷ vật quý giá. Tấm ảnh với đôi mắt liếc đó, với tôi, đó là một câu chuyện cần phải được kể lại, minh hoạ thật sống động, vào một ngày nào đó. Dĩ nhiên, khi đó, nó sẽ là một phần của lịch sử mà người Việt đã bước qua, học và nhớ để không bao giờ quay trở lại.
[/caption]Trong tất cả những bức ảnh mà tôi có, bức ảnh chụp chung với vợ chồng anh Nguyễn Bắc Truyễn, là một bức ảnh có điều rất lạ. Bức ảnh chụp vào một buổi sáng đầu hè, nắng nhẹ nhàng lên cao. Ánh nắng hắt vào gương mặt từng người, dễ dàng thấy được điều đó. Tôi vẫn nhìn đi nhìn lại bức ảnh nhiều lần, trong đó, đôi mắt liếc của chị Phượng là điểm phá hỏng không gian của tấm ảnh, đã luôn làm tôi ngẫm nghĩ.
Với những nhà nhiếp ảnh, đó là một tấm ảnh sai kỹ thuật, đáng vứt đi. Nhưng với tôi, thì đó lại là một bức ảnh ẩn chứa một câu chuyện dài của đời người. Bức ảnh như một chứng vật của thời đại, mà mai sau có thể trở thành giáo khoa uẩn khúc về số phận con người nơi quê hương đang chập chùng, đầy những điều phải lo âu lúc này.
Lý do của đôi mắt liếc ấy, tôi nhớ, là khi chúng tôi đứng kề nhau và nhờ cháu Nhi, con của tù nhân chính trị Nguyễn Văn Răng (anh Răng đang chịu án tại trại Xuân Lộc, Đồng Nai) chụp giùm. Ngay khi đó, có bóng một người đàn ông bước qua cửa, và nhìn chúng tôi.
Tôi nghĩ, và có lẽ cả 3 cùng nghĩ, “lại là một an ninh chìm nhìn ngó”.
Anh Truyễn có lẽ nhìn thấy, nhưng với anh, thì chắc đã quá quen với những cảnh như vậy. Tôi thì chỉ biết nhìn người lạ đó một cách vô tri, nhưng chị Phượng thì bất ngờ linh hoạt, im lặng căng người quan sát, cho đến khi người lạ đó khuất dạng. Bản năng của riêng một người phụ nữ hay của cả loài người trước những hiểm nguy, khiến họ trở nên nhanh nhạy bất thường. Nhất là từ khi chị Phượng yêu một người đàn ông có thái độ chính trị đối lập với nhà nước Việt Nam, vốn đã trãi qua những điều kinh hãi, nghi hoặc, nên đã trở thành bản năng với những gì bất thường chung quanh mình.
Anh Truyễn và chị Phượng gặp và yêu nhau ở hoàn cảnh thật trớ trêu, nhưng nhiều đồng cảm. Chị Phượng là một tín đồ Hoà Hảo ở Lấp Vò, Đồng Tháp, một vùng mà công an chưa bao giờ có thể là bạn, còn anh Truyễn là một người tranh đấu tự do, cũng đã trãi qua những cam go khó tưởng được. Dù mới biết nhau, Anh Truyễn và chị Phượng đã sớm chia nhau nỗi đau về phận làm người trên nước mình. Mới đây thôi, ngày 24-2-2014, khi cùng nhau đến tòa đại sứ Úc ở Hà Nội, an ninh chìm đã xông đến đánh anh Truyễn mặt bê bết máu, mắt sưng bầm, nằm gục giữa đường. Và dù là phụ nữ, chị Phượng cũng bị đấm vào mặt, suýt ngất. Đám đông xuất hiện can thiệp, an ninh bỏ đi. Người ta kể rằng chị Phượng với 2 dòng nước mắt lăn dài, nhưng vẫn kiên cường dìu chồng của mình đứng lên để tiếp tục đi.
Trước đó, ở ngay tại nhà mình. Chị Phượng chứng kiến tình yêu của mình có cái giá như thế nào. Ngày 9-2, hàng trăm công an xông vào nhà chị đập phá, đánh người rồi giải đi. Hàng xóm chung quanh kinh hoàng. Liên tục nhiều đêm sau, những bóng đen ngang nhiên leo vào nhà chị tìm cách phá hoại đời sống, khủng bố tinh thần. Những người phụ nữ trong nhà thì hoảng sợ, im lặng, ngồi cố thủ trong nhà.
Nhưng anh Truyễn không vì sợ hãi mà ngừng lại. Cái ngày tôi gặp anh Nguyễn Bắc Truyễn và chị Bùi Thị Kim Phượng ở Saigon, là ngày anh Truyễn vẫn ráo riết chạy vạy, tìm cách làm cái gì đó để giúp cho các con em của tù nhân chính trị đang gặp khó khăn. Chị Phượng vẫn ở đó, bên cạnh anh. Ánh mắt chị vô cùng dịu dàng và tự hào khi nhìn anh Truyễn nói chuyện với tôi. Đó là một trong những ánh mắt có giá trị xác tín ở tình yêu, lớn lao nhất, mà tôi có thể chứng kiến trong đời mình.
Và cũng ánh mắt đó, trong phút giây tích tắc của bức ảnh ghi lại, tôi nhìn thấy ánh chớp của người đàn bà đã bước qua sóng gió và nay sẳn sàng lao ra để đối phó, che chắn cho tình yêu của mình. Đôi mắt liếc, sắc và không hề sợ hãi đó, tôi nhìn đi nhìn lại và mỉm cười: Tấm ảnh đã nói quá nhiều điều.
Tôi gửi bức ảnh đó cho một người bạn ở nước ngoài, nhờ giữ giùm như một kỷ vật quý giá. Tấm ảnh với đôi mắt liếc đó, với tôi, đó là một câu chuyện cần phải được kể lại, minh hoạ thật sống động, vào một ngày nào đó. Dĩ nhiên, khi đó, nó sẽ là một phần của lịch sử mà người Việt đã bước qua, học và nhớ để không bao giờ quay trở lại.
Wednesday, April 2, 2014
Saigon, trong thanh âm vô lượng
Mỗi người dân Sài Gòn nhập cư đều có một cố hương để hoài nhớ. Thành phố này ôm trong lòng nó đủ hạng người với nhiều cung bậc cách biệt, nhưng không biệt xứ. Có cõi quê trở về cho tròn lời hứa Xuân này con trở về, rồi lại khắc khoải nỗi tha hương Lạy mẹ con đi. Đi để về và đi là về.
Vài mươi năm trước, tôi vẫn bị hấp dẫn bởi những tiếng gõ nhịp của xe mì đêm. Những chủ xe mì đẩy dọc vỉa hè ban đêm luôn có một, hai tùy tùng lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm để rao mì bằng tiếng gõ độc đáo.
Đó là những nhịp điệu không quá chói tai để tránh làm phiền người ngủ sớm.
Có lần được nói chuyện với A Hoành, một ông già Trung Hoa đầy kiến thức dân gian, ông nói việc gõ mì cũng báo hiệu bang hội và đẳng cấp. Để phát ra tiếng kêu thanh và chắc đó, người bán mì sử dụng hai miếng gỗ dài, mặt hơi cong để tạo âm vang, và sau này thường là hai miếng tre. Hình thức này rất giống với người mõ làng ngày xưa vẫn đi tuần trong thôn xóm, gõ báo sang canh cũng như phòng trộm cắp. Nhưng gõ mì thì nhịp điệu thôi thúc và nhiều nhạc tính hơn.
A Hoành nói ngày xưa người bán mì rong vỉa hè cũng có bang hội. Người vào nghề bán mì nếu là hạng thứ, chỉ được gõ chứ không được đứng bán. Học gõ rao mì không dễ, có người phải tập một, hai tuần mới được. Người Hoa từ xưa đã mang nghề bán mì đi khắp thế giới để kiếm sống, nên người đến trước có quyền hạn như đại ca. Tiếng rao mì của vùng do đại ca quản lý, tiếng gõ có những âm thanh khác biệt mà dân trong nghề nghe phải biết và tránh lấn vào vùng làm ăn của đại ca như một cách bày tỏ sự tôn trọng.
Những ngày tháng xã hội biến động, không chỉ ở Trung Hoa hay Việt Nam, những xe mì tham gia hội kín cũng hay dùng tiếng gõ mì như một loại truyền tin mà chính quyền nào cũng bó tay, không tài nào hiểu được.
Khi thêm hiểu biết, tôi thú vị vì giá trị của tiếng gõ mì như một loại truyền thông tiếp thị đường phố – street marketing, loại quảng bá kinh doanh quan trọng được đưa vào sách giáo khoa của các đại học lớn trên thế giới sau nhiều thập kỷ nghiên cứu, vậy mà ông cha sử dụng tự nhiên từ một cảm giác trời ban, không cần loằng ngoằng lý luận.
Năm 1995, khi ông vua nhạc pop Michael Jackson phát hành album History, tôi từng sửng sốt khi nghe nhịp điệu của bài They don’t care about us: nó không khác gì nhịp điệu của mì gõ Sài Gòn, được thêm thắt bằng những âm thanh hiện đại. Nhịp điệu thôi thúc và hấp dẫn này lọt vào top 10 của hầu hết các quốc gia châu Âu. Còn tiếng gõ mì, nếu được bình chọn, tôi tin rằng nó sẽ lọt vào top 10 của những âm thanh làm nên một Sài Gòn hoa lệ và bao dung, che chở và nuôi nấng hàng triệu người nhập cư.
Đã nói đến bình chọn thì không thể không nhắc đến tiếng trống – phèng rao bán đầu lân ông địa mùa Trung thu. Cùng với tiết tấu của hip hop, điệu trống bán đầu lân luôn khiến đám nhỏ nhảy múa quanh chiếc xe. Đứa nào được gia đình cho tiền mua một cái thì như lên tiên, cứ tung tăng không ngừng nghỉ bên nhịp điệu “tùng cheng”. Điệu trống làm trẻ nhỏ nôn nao đó là cột mốc thời gian, báo hiệu một thời khắc của mùa, của đời đang đến.
Sài Gòn đã nhận vào lòng mình muôn muôn tiếng động, như nhịp đập của trái tim của vùng đất, như hơi thở của thị dân linh hoạt và tự do thiên định trong dòng máu của mình. Vô cùng sáng tạo, người ta có thể nhớ nhiều đến tiếng răng rắc rao đấm bóp đêm, tiếng leng keng của xe bán kem, tiếng kèn bóp hơi của người mua bán ve chai, tiếng mu rùa lốc cốc của người coi bói dạo... kể cả tiếng kèn tây đám ma tiễn đưa người chết.
Nhưng cũng như tuổi thanh xuân đẹp nhất của mỗi người đã đi qua và không bao giờ trở lại, cô gái Sài Gòn nhiều tuổi hơn và cũng mất mát những điều diễm lệ đời thường đã từng có. Những thanh âm độc đáo đó cũng mất dần. Những tiếng rao hàng cũng xa xôi. Sài Gòn giờ rực rỡ hơn, ồn ào hơn... Nhưng cũng chừng như ít nhiều vô vị.
Những thanh âm được sáng tạo của người xưa giờ được thay bằng những chiếc loa sắt và các phần ghi âm sẵn. Nền công nghiệp bèo nhèo của hệ thống tiếp thị kinh doanh đường phố đã giết chết những điều rất “người” và kỳ thú còn sót lại của thành phố.
Tiếng nhạc kẹo kéo giữa những đêm bên các tụ điểm sôi động của Sài Gòn với dòng ca sĩ bắt kịp thời sự của Mỹ, là một dấu ấn khác. Những Michael Jackkeo, những Lady Keokeo...
Có lẽ rất nhiều người vẫn thầm nghĩ tiếng loa rao bán keo bẫy chuột hay tò te tí vô hồn của xe kem cây đời mới, không bao giờ so được với tiếng rao của con người, dù yếu ớt giữa muôn vàn tiếng động đô thị. Nhưng những đổi thay buồn chán đó vẫn được ôm trọn trong lòng Sài Gòn bằng sự bao dung rộng lớn, vì đó cũng là những cách để mưu sinh.
Trong những điều rất mới của âm thanh Sài Gòn, có những chiếc xe ba gác chở đầy đĩa nhạc, xập xình những bài hát được yêu chuộng. Nhưng âm thanh được phát ra trên những chuyến xe đó, vang vọng lời ca một thời của Thanh Tuyền, Duy Khánh, Sĩ Phú... cũng là những điều xưa cũ, hoặc làm người ta nhớ đến những điều rất xưa cũ.
Sài Gòn là vậy đó. Sài Gòn bao dung ôm trong lòng mình tương lai nhưng không bao giờ phản bội quá khứ.
Tuấn Khanh
(12/2013)
Nguồn ảnh:Tư Liệu
Subscribe to:
Posts (Atom)