Sunday, February 28, 2021

Xin chọn nơi này làm quê hương

 


Bác sĩ Yersin qua đời ngày 1-3-1943 tại Việt Nam, lúc 79 tuổi. Ngôi mộ của ông nằm ở Suối Dầu, Nha Trang, chung quanh là những hàng cây hoa sứ trắng. Dù là một nơi khuất bóng người, nhưng nơi đây bao giờ cũng có hương khói và hoa thơm, được dân trong vùng chia nhau quét dọn sạch sẽ. Ông Năm – hay là Alexandre Émile Jean Yersin – là một trường hợp đặc biệt của lịch sử Việt Nam, vì được người dân nhắc, nhớ và kính trọng như một hiền nhân của nước Việt.

  Lần ghé thăm và tìm hiểu về ông, dù đã nghe kể nhiều như một huyền thoại, nhưng đến khi chứng kiến, vẫn không khỏi bồi hồi. Sống, tận hiến, yêu thương và lặng lẽ ra đi trong tình nhân loại: Liệu có một nhân vật quyền bính nào hôm nay đủ tư cách để sánh ngang hàng với ông? Cuộc đời của bác sĩ Yersin gắn liền với việc tránh xa đô thị, quyền chức và đám đông. Đã từng có nhà nghiên cứu đặt giả thuyết rằng Yersin mắc chứng agoraphobia (chán sợ đám đông) nên chỉ thích nơi thanh tịnh. Trong tuổi trẻ và nhận thức bước vào đời của ông, người ta thấy được, qua việc ông viết thư cho mẹ khi chọn đến Đông Dương (1890) “Con sẽ không buồn nếu phải rời Paris vì con thấy chán ngấy tuồng diễn, đám thượng lưu làm con kinh tởm, và đời mà không đi thì còn gì gọi là đời”. Theo lời kể của bạn bè, để tránh phải trò chuyện, Yersin thường có một cuốn sổ tay mang tay, khi cần thì lấy ra, giả bộ tập trung ghi chép để tránh né giao tiếp không cần thiết. Paris lúc ấy là trung tâm văn minh của nhân loại, từ kịch nghệ cho đến hội họa, âm nhạc và cả tiến bộ y khoa. Và Đông Dương lúc ấy, được phương Tây coi là nơi man khai, con người mọi rợ và rừng rú. Quyết định của Yersin gây nhiều xung đột với bạn bè và đồng nghiệp, vì vị trí của chàng trai Yersin lúc ấy ở Paris, cũng đầy hào quang không khác gì bác sĩ Louis Pasteur hay Robert Kock, thế nhưng ra đi, là điều không thể ngăn được Yersin.

Vốn là một người lớn lên ở cao nguyên và núi non Aubonne, Vaud (Thụy Sĩ), đến Đức rồi qua Pháp, bác sĩ Yersin chỉ thấy biển lần đầu tiên vào năm ông 26 tuổi trên một chiếc tàu buồm. Ông say mê biển đến mức viết thư kể lại cho bạn, như một nhà văn. Có lẽ chính vì vậy đến Nha Trang, vùng đất có bờ biển đẹp chạy dài theo những đường ven núi khiến ông không thể rời. Chọn cuộc sống ở đây để nghiên cứu và thám hiểm, bác sĩ Yersin đã nhiều lần quay lại Pháp để mang những dụng cụ thí nghiệm và sách vở. Máy bay đáp ở Sài Gòn, lúc đó để đến được Nha Trang thì ông có lúc phải mất đến tám ngày đường bộ, còn đi tàu thủy từ Pháp thì mất một tháng. Câu hỏi đặt ra là vì sao một nhà khoa học thuần túy như bác sĩ Yersin lại luôn băng rừng, khám phá mọi thứ ngóc ngách của cao nguyên Lâm Viên, dựng hồn của của Đà Lạt… vào thời buổi cọp beo, thổ phỉ, tù vượt ngục, và đủ các loại bệnh nhiệt đới? Trong sách Yersin: Peste et Choléra, tác giả Patrick Deville phân tích nhân cách của Yersin và một số “đứa trẻ mồ côi cha” khác, cùng thời với ông như Roux (nhà khoa học), Haffkine (nhà khoa học) hay Rimbaud (nhà thơ), Doumer (nhà chính trị). Theo ông Patrick Deville, hoàn cảnh mồ côi cha là nguyên nhân chính biến những đứa trẻ lớn lên, hay trở thành những kẻ liều lĩnh, phiêu lưu, ham chinh phục. Nhiều năm sau, khi quay lại Pháp để dự khánh thành Viện Pasteur, bác sĩ Yersin bị mẹ chất vấn liên tục về việc ở lì tại Việt Nam, ông chỉ trả lời đơn giản rằng “Vì nơi đó, con được thấy biển”. Không phải khởi đầu, một tên da trắng và bị nhìn như một “tay sai thực dân” có thể gây được cảm tình với dân Việt Nam, và cả dân thiểu số. Những ngày khởi đầu khám bệnh và phát thuốc miễn phí cho người dân, ông bị lấy cắp tiền hoặc đồ vật. Trong thư gửi mẹ mình, Yersin viết rằng “Bệnh nhân An Nam từ khắp nơi đổ về đây, những lúc con không đi chơi đâu đó. Nói cho đúng, họ lợi dụng hiểu biết khoa học của con, nhất là những lúc để trả tiền cho con, họ lại thân ái đánh cắp ví của con. Nhưng biết làm sao bây giờ, trong óc họ, ăn cắp tiền của một người Pháp là một hành động tốt. Vả lại, người Pháp đến xứ Đông Dương này để làm gì đây, nếu không phải là ăn cắp của người An Nam?". Không lâu sau đó, người dân Việt coi ông như một vị thánh. Sự nhân ái, vị tha và thấu hiểu của ông khiến “ông Năm” trở thành một người Việt đặc biệt, luôn được kính trọng.

Chắc có lẽ không cần viết về những công lao khoa học và sự kính trọng mà bác sĩ Yersin đã dựng nên trong suốt cuộc đời mình, thế giới và cả Việt Nam đã ghi lại đủ. Điều cần biết là ở Sài Gòn, miền Nam Việt Nam, trước đời đệ nhất Cộng hòa (tháng 3-1955), hầu hết các tên đường mang tên các quan chức Pháp đều bị loại bỏ, chỉ có 4 người nước ngoài được giữ lại để vinh danh, trong đó là 3 vị bác sĩ, nhà khoa học Yersin (1863-1943), Calmette (1863 – 1933) và Pasteur (1822 – 1895), và một học giả, linh mục truyền đạo Alexandre de Rhodes (1591-1660). Sau tháng 4-1975, các tên đường Mỹ - Pháp… bị coi là tàn dư của văn hóa đồi trụy nên bị đổi đi. Chẳng hạn như đường Alexandre de Rhodes bị đổi thành Thái Văn Lung, đường Pasteur bị đổi thành Nguyễn Thị Minh Khai (đổi từ ngày 14-8-1975, do Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Đến lễ 2-9-1991, UBND TP xác nhận đây là tên ân nhân của nhân loại, nên lấy lại Pasteur như cũ). Điều cuối cùng về bác sĩ Alexandre Émile Jean Yersin, là di chúc để lại, ông muốn được chôn nằm sấp xuống đất để được áp mặt vào nơi chốn ông đã chọn nơi này làm quê hương. Dẫu không là một người Việt nhưng ông sống và yêu nơi chốn này hơn cả mọi khoa trương lý tưởng “Giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác”, di chúc ghi. Và đáng kính trọng, ông ra đi như một người Việt Nam vĩ đại, không cần lăng to, đất rộng làm nhà mồ, không cần ai phải gọi tên hay tung hô mình như lãnh tụ. Thậm chí, nơi yên nghỉ với tính cách giản dị ông, có lẽ cũng không mong được trở thành di tích văn hóa. ---- Tham khảo tư liệu từ : - Yersin: Peste et Choléra của Patrick Deville, bản dịch của Đặng Thế Linh, NXB Trẻ - Docteur Nam của Eslisabeth du Closel, bản dịch Việt ngữ của Lê Trọng Sâm, NXB Trẻ. - Địa chí Văn hóa TP.HCM (1698 - 2018), NXB Tổng hợp TPHCM. - Calmette: là người đã phát triển thành công vaccine phòng bệnh chó dại, đậu mùa và bệnh lao. Ông cũng là một trong những người đã mở ra viện Pasteur tại Sài Gòn - nơi có đóng góp không nhỏ vào kho tàng nghiên cứu y học của thế giới. - Yersin: người đã nghiên cứu về độc tố bệnh bạch hầu, và cũng là một trong những người đầu tiên sáng lập ra viện Pasteur - Sài Gòn. - Pasteur: người khai sáng ngành nghiên cứu vi sinh vật học, là người đã sáng chế ra thuốc kháng sinh đầu tiên trên thế giới. Viện Pasteur cũng được thành lập dựa trên ý tưởng của ông. - Alexandre de Rhodes: nhà truyền giáo, một nhà ngôn ngữ học người Pháp. Người ta lấy tên ông để đặt cho con đường nhằm vinh danh đóng góp quan trọng của ông trong việc hình thành chữ quốc ngữ Việt Nam. - Robert Koch (1843-1920): nhà khoa học người Đức, tìm ra vi khuẩn than, trực khuẩn lao và vi khuẩn dịch tả

Saturday, February 27, 2021

Áo bà ba: vì sao không là áo bà Tư?

 



Người Việt ai cũng biết áo bà ba. Đặc biệt là dân Nam bộ thì ai cũng biết bởi đó gần như là trang phục hàng ngày của phụ nữ từ đầu làng đến cuối xóm.

Cái tên bà ba, cũng là điều tranh cãi rất nhiều, vì không rõ nguồn từ đâu, và có từ khi nào. Duy từ hai giải thuyết đáng tin cậy nhất, có thể thấy cái tên bà ba xuất phát từ nhà văn Sơn Nam, và hoàn toàn không liên quan gì đến các bà Tư hay bà Năm gì cả…

Giả thuyết thứ nhất, với nhiều tài liệu cũ trước năm 1975 ghi rằng áo bà ba xuất hiện đầu tiên ở Nam bộ, vào nửa đầu thế kỷ 19, được học giả Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người dân đảo Pénang (người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người Việt. Người ta tin rằng tên gọi chiếc áo bắt đầu từ hai chữ Baba-Nyonya.

Người Baba-Nyonya (峇 峇 娘惹), tiếng địa phương là Peranakan, có nghĩa là hậu duệ của những người nhập cư Trung Quốc đầu tiên đến định cư tại các thuộc địa của Anh trên Eo biển ở Malacca, Pénang và Singapore từ thế kỷ 16 đến 18. Baba (峇 峇) là một từ tiếng Trung Quốc có nghĩa là 'cha' và dùng để chỉ nam giới. Nyonya xuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha donha, 'quý bà', và dùng để chỉ phụ nữ. Có thể học giả Trương Vĩnh Ký đã thích thú trước cái áo rất dễ nhìn, dễ vận dụng trong đời sống làm việc lẫn sinh hoạt hàng ngày và mang về, chỉnh lại đôi chút cho người Việt.

Viết trong Văn minh miệt vườn, nhà văn Sơn Nam ghi rằng “Ở miệt vườn, kiểu quần áo bà ba là tiện lợi nhất, đồng thời quần áo bà ba cũng tiêu biểu cho sự trang nghiêm trong giới trung lưu... Áo bà ba gọn gàng, cởi ra mặc vào dễ dàng, giúp con người đi đứng khoan thai, ít câu thúc”. Điều đáng chú ý, luận điểm của nhà văn Sơn Nam nhắc về việc người dân miền Nam nói trại đi chữ Baba nguyên gốc thành áo bà ba. Tương tự như giả thuyết về học giả Trương Vĩnh Ký, nhà văn Sơn Nam cũng ghi “Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa. Chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba”.

Sau năm 1975, có một vài nhà nghiên cứu từ phía Bắc vào, và phủ nhận nhận quan điểm này, và nói rằng người Mã Lai không có tộc nào tên Baba hay Babas cả. Thậm chí còn bịa ra câu chuyện là có một phụ nữa Nam Bộ nào đó chế ra kiểu áo này từ áo dài, và tệ hơn, có giả thuyết từ giới trí thức ấy, là áo bà ba được khởi đầu may tạo ra ba tà, nên có tên liên quan số 3.

Miền Nam là vùng đất của tất cả những con người lam lũ và khởi đầu cuộc sống mở mang, khai hoang ở thế kỷ 18 và 19. Do đó có thể khẳng định rằng tất cả những hình thái ban đầu của chiếc áo bà ba, từ xưa đó cho đến nay, đã trải qua rất nhiều cải cách, dựa theo tính vận động và nghi thức lễ lạc của người miền Nam Việt Nam. Về sau nhiều tôn giáo và trang phục lễ nghi tôn giáo ở miền Nam cũng chấp nhận dùng áo bà ba, có nơi dùng áo bà ba nhưng khác màu sắc ngày thường.

Vì sao áo bà ba trở nên phổ biến ở miền Nam? Có một giả thuyết khác từ sử liệu nói rằng khi chúa Nguyễn đời thứ 8, chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765), nắm quyền từ từ năm 24 tuổi, đã đặt ra nhiều cải cách về hành chính cũng như thay đổi y phục từ quan đến dân. Người dân ở phía Nam đã chọn kiểu áo bà ba với màu tối, dùng chung cho cả đàn ông và đàn bà như một cách ứng xử tiện gọn cho mình. Bên cạnh đó, giai đoạn chúa Nguyễn Phúc Khoát cầm quyền cũng là lúc hiềm khích giữa Đại Việt và Chân Lạp (tức triều đại cổ của người Khmer) ngày càng dâng. Đặc biệt là vua Nặc Nguyên chủ trương tấn công vào biên giới Đại Việt để hà hiếp, cướp bóc những tộc du cư đến Đại Việt như người Chăm, Mã Lai, Che Mạ (gọi chung là Côn Man) nên dân Việt hay mặc áo bà ba để phân biệt người mình.

Về mặt thẩm mỹ mà nói, cho đến hôm nay, áo bà ba là một loại trang phục hết sức đặc biệt của miền Nam: Áo đàn ông thì trang nghiêm, đĩnh đạc. Áo cho đàn bà thì thanh thoát duyên dáng - thậm chí còn rất quyến rũ khi phối dựng với chất liệu vải và kiểu may cổ và xẻ tà.


Nguyên gốc áo bà ba vốn là áo không cổ - đó là sự khác biệt lớn giữa các trang phục có nét tương tự của các dân tộc khác. Thân áo phía sau may bằng một mảnh vải nguyên, thân trước gồm hai mảnh, ở giữa có hai dải khuy cài chạy dài từ trên xuống . Áo chít eo, xẻ tà vừa phải ở hai bên hông. Tương tự như áo dài, áo bà ba có độ dài trùm qua mông, gần như bó sát thân làm tôn lên những đường cong tuyệt mỹ của cơ thể người phụ nữ.

Trong bối cảnh Trung Quốc đang lấn và chiếm nhiều giá trị văn hóa của Việt Nam, để mô tả tính chất chịu ảnh hưởng của chư hầu, chiếc áo bà ba cũng đang bị dòm ngó, không khác gì kim chi Hàn Quốc đang bị tiếm danh bởi Trung Quốc. Có tài liệu bậc tiến sĩ ở Hà Nội, gần đây còn chứng minh áo bà ba là trang phục từ người Minh hương di cư đến miền Nam nên được lấy lại. Tài liệu gốc chứng minh thì được dẫn từ sách Trung Quốc.

Lịch sử Việt Nam từ sau 1975 đến nay đang bị nói lại, diễn giải lại hết sức duy ý chí, không thể không gọi làm đau lòng tiền nhân. Nhớ lại, dạy cho con cháu, những thứ đơn giản như tên gọi áo bà ba, cũng là một cách kính trọng tổ tiên Việt đã khai phá, và giữ lòng tự trọng của một người Việt Nam đứng ngoài nạn sính chữ điêu xằng.

Tuesday, February 16, 2021

Chuyện xưa, chuyện nay

 


 

Trong phim Forbidden Dream (2019), được các nhà làm phim ghi rõ là kể lại từ câu chuyện lịch sử có thật,  đã mô tả triều đại Joseon của Đại Hàn xoay sở khổ nhục ra sao, để phát triển các ngành khoa học trước sự theo dõi của nhà Minh (Trung Hoa). Câu chuyện xoay quanh chi tiết vua tôi của Cao Ly ngày ấy (thế kỷ 15) bí mật cố gắng tìm ra múi giờ riêng của quốc gia, không muốn bị ép buộc sống theo giờ quy định tập quyền của phương Bắc. Những nỗ lực đầu tiên ấy, bị coi là phản nghịch, sách vở thiên văn bị đốt bỏ, các nhà khoa học bị luận tội, các trụ định hướng sao trên trời bị kéo sập trong sự giám sát của sứ giả Trung Hoa.

 

Cũng cùng thời gian ấy, tại Việt Nam, cuộc hủy diệt văn hóa thư tịch của người Việt cũng bị nhà Minh áp đặt lên nhà Lê. Theo Đại Việt sử ký, năm Vĩnh Lạc thứ 16 thời Minh (1418), vua nhà Minh nhiều lần chính thức cử học sĩ sang An Nam để vừa tịch thu, vừa hủy diệt, mục đích là không để người Việt phát triển văn hóa riêng, ghìm chặt việc thiếu ý thức tự chủ để không thể lớn mạnh. Căn cứ vào các chiếu dụ từ năm Vĩnh Lạc thứ 4 đến thứ 5 được chép trong Việt kiệu thư thì có khá nhiều lần đề cập đến việc hủy diệt văn hóa phương Nam, trong đó có một đạo sắc cho Trương Phụ đề ngày 21 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 5: “Trước đây (trẫm) từng nhiều lần chỉ dụ cho các khanh rằng phàm là văn tự sách vở của An Nam, từ những loại sách học vỡ lòng quê mùa vụn vặt như Thượng đại quan nhân, Khâu Ất Kỉ cho đến các loại bia khắc do họ tự lập hễ trông thấy là phá huỷ ngay lập tức, không được để lại. Nay trẫm nghe nói trong quân khi thu được văn tự sách vở đã không ra lệnh cho quân lính thiêu hủy ngay lập tức, mà để lại đọc qua sau đó mới đốt. Quân lính nhiều người không biết chữ, nếu duy trì lệnh đó tất sẽ để lại nhiều thiếu sót. Nay các ngươi phải nên thực thi theo sắc trước, ra lệnh trong quân hễ gặp bất cứ vật gì có văn tự thì lập tức thiêu huỷ ngay, không được lưu lại”. (Tạp chí Văn hiến số 2, năm 2003)

 

Đọc lại lịch sử xưa, đối chiếu, mới thấy Trung Hoa ngàn năm trước và hiện tại không có gì khác biệt, mặc dù vỏ bọc lúc là phong kiến, lúc là cộng sản, nhưng căn cơ vẫn là độc tài và mê cuồng bá quyền, sẵn sàng chà đạp bất kỳ ai ngăn cản tham vọng của họ.

 

Chính sách viễn giao cận công của Trung Hoa, có từ năm 230 trước Công nguyên, được nhà Tần áp dụng, cho đến nay vẫn là một trong những mạch chính của nhà nước Trung Hoa cộng sản, chỉ có khác là sự linh hoạt uyển chuyển hơn, lúc đánh, lúc đàm, lúc đấm, lúc xoa. Chính vì sự giảo hoạt vậy, Trung Hoa không thể có bạn. Họ chỉ có giả làm bạn và thâu tóm, để biến bạn thành thủ hạ, tay sai hoặc để thao túng.

 

Bạn hay thù chỉ như trở bàn tay. Đó là lý do năm 1979, ngày 17-2, Bắc Kinh huy động một lực lượng lớn quân, hơn cả tổng số quân đồng minh tương trợ của Việt Nam Cộng Hòa, để tấn công các tỉnh phía Bắc Việt Nam, tàn phá, đốt, giết… Hình ảnh của những cuộc xâm lược từ ngàn năm trước hiện lại mồn một. Tên gọi của cuộc chiến huynh đệ cộng sản tương tàn đó, được Đặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc khẳng định “dạy cho Việt Nam một bài học”.

 

Bài học đó là gì? Là Hà Nội sẽ bị tấn công tàn khốc, nhưng không hề có được sự can thiệp nào của đàn anh cộng sản Liên Xô. Khó chịu vì đàn em Khmer bị Việt Nam đánh đuổi, và khó chịu Việt Nam có vẻ nghiêng về Liên Xô hơn trong thời điểm đó. Và dù tất cả đều là những người bạn của mặt trận vô sản, nhưng không cần làm bạn nữa thì Bắc Kinh sẽ ra tay tức thì.

 

Nhưng câu nói “dạy cho Việt Nam một bài học” quả thật sự đau đớn, vì hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam lại dùng đất nước và con người Việt Nam làm nơi để diệu võ dương oai với nhau, chứ không hề có máu xương người già, em bé, thanh niên Việt Nam nào liên quan đến cái bài học xung đột tình thân anh em cộng sản ấy cả.

 

Lịch sử đã qua, không chỉ để nhớ, mà còn để học biết đủ về nó. Ngày 17/2 hàng năm, người Việt vẫn nhắc nhau về ký ức đau thương và kinh hoàng, gây ra bởi một đế quốc hung tàn nằm cạnh đường biên giới. Nhưng hôm nay, lịch sử còn là lý do để mọi người nhìn kỹ hơn những gì đang đến, chuẩn bị cho những thảm kịch đang đến.

 

Những xung đột mới, có thể không đến từ đất liền, mà từ biển, đặc biệt từ ngày 1/2/2021, khi Luật Hải Cảnh của Trung Quốc có hiệu lực. Mơ hồ và bao trùm, luật này có 84 điều và 11 chương, cho phép các tàu hải cảnh Trung Quốc có quyền bắn, truy đuổi, bắt giữ… tất cả những tàu thuyền bị coi là vi phạm phía trong và trên vùng biển nằm trong quyền tài phán của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Nhưng cụ thể các nơi như vậy thì không được liệt kê. Hay nói cách khác, Bắc Kinh đang hợp pháp hóa chủ quyền đường chín đoạn của họ bằng vũ lực.

 

Cách nói mơ hồ này cũng đang gán cho việc cảnh sát biển Trung Quốc có quyền hạn kiểm soát cả ADIZ (vùng nhận dạng phòng không trên biển). Hơn nữa điều 12 của luật này còn tự cho phép các tàu hải cảnh có thể kiểm soát và ngăn chận các vụ đánh bắt, thu hoạch hải sản. Đây quả là cơn ác mộng của ngư dân Việt Nam, vì từ suốt nhiều thập niên qua, số tàu bị đâm, bị bắt và người chết vì các lực lượng từ nước Trung Quốc anh em trên biển Đông, dẫn đầu vẫn là ngư dân Việt.

 

Mọi thứ trong tương lai thật khó đoán, khi hai đảng cộng sản vẫn được gọi là hữu nghị bền chặt, nhưng có nhiều dấu hiệu rạn nứt gần đây – theo giới bình luận thời sự. Vẫn không biết được liệu có bài học nào lại được Bắc Kinh tung ra trên biển để dạy dỗ Hà Nội trong thời gian tới hay không?

 

Mà quả thật, không thể đoán, hay hiểu nổi, khi cuộc chiến 1979 kết thúc, sách giáo khoa Trung Quốc dạy rằng họ đã chiến thắng. Văn chương, kịch nghệ… của Trung Quốc được nhắc đến những chuyện này, nhưng ở Việt Nam, nơi thật sự đã đẩy lùi được cuộc xâm lược, thì chỉ có chút ít thông tin nơi sách giáo khoa, âm nhạc, hội họa… đề cập đến cuộc chiến tranh chống xâm lược của người dân Việt Nam, luôn bị cắt gọt kỹ lưỡng hay từ chối. Đến nay thì gần như xóa trắng.

 

Đặng Tiểu Bình, người chịu trách nhiệm hai cuộc xâm lăng đẫm máu 1979 và 1988 (Gạc Ma) thì được chính thức dịch sách, ca ngợi “Một trí tuệ siêu việt”, và lại còn tái bản. Còn tác phẩm Gạc Ma, Vòng tròn bất tử, nói về đảo bị cướp, về những người lính Việt Nam chết tức tưởi, thi hài không mang được về quê nhà, thì bị cắt, đình trệ, hơn mười năm chờ đợi rồi được phát hành, nhưng thu hồi ngay sau đó.

 

Mới đây, trả lời tờ Korea Joongang Daily (20-12-2019), nói về việc tham gia thực hiện cuốn phim Forbidden Dream, diễn viên Choi Min-sik nói rằng với nền lịch sử 500 năm được ghi chép của nước Đại Hàn xưa, ông khao khát mình được thể hiện những câu chuyện, những gương mặt của quá khứ cho khán giả hôm nay. Đạo diễn Hur Jin-ho cũng có lần nói trên Yonhap News Angency rằng ông bước qua những đề tài thương mại mà muốn nối dài câu chuyện lịch sử, vì nghĩ rằng thế hệ mới cần có chúng hơn là ông cần tiền.

 

Chạnh lòng tự nghĩ. Có lẽ người Việt Nam không thiếu những người khao khát được sống, hành động và nối dài sự thật lịch sử, muốn không để cho máu xương cha ông bị đau tủi ở chốn vô danh. Nhưng điều đơn giản đó, không chỉ có lòng yêu nước là có thể làm được, hôm nay.

 

Thursday, February 4, 2021

Đi tìm bóng Phượng Hoàng cuối cùng


Cuộc nói chuyện với anh Nguyễn Trung Vinh, tay trống của ban nhạc Phượng Hoàng, đã giúp xác định thêm vài chi tiết rất đáng quý cho lịch sử nhạc trẻ Việt Nam trước năm 1975.

Chủ trương chơi nhạc trẻ Việt hóa là khởi động từ suy nghĩ của nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang và sau đó bắt gặp một người sáng tác đồng điệu với khuynh hướng đó, là Lê Hựu Hà. Những buổi tập đầu tiên của ban Phượng Hoàng đã diễn ra tại nhà của nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang tại đường Trương Minh Giảng, nay là đường Lê Văn Sỹ, quận 3, Đô thành Saigon.

Cần một tay chơi trống có đủ chất nhạc trẻ, Nguyễn Trung Cang đi tìm Nguyễn Trung Vinh để mời vào chơi với ban nhạc. Lúc đó dù đang đánh trống kiếm sống ở nhà hàng Arc En Ciel (quận 5) nhưng Nguyễn Trung Vinh quyết định tham gia vì quá thích kiểu chơi mới này.

Dù Nguyễn Trung Cang và Nguyễn Trung Vinh có cùng họ và tên đệm, khiến cho nhiều người nghĩ đó là hai anh em, nhưng thực ra, họ hoàn toàn không có họ hàng gì cả.

Ban nhạc Phượng Hoàng tập với nhau trong vòng vài tuần, thử qua nhiều ca sĩ nhưng đều không thích hợp (bạn bè cùng trường cho đến Thanh Lan, Duy Quang...) nhưng chưa có ai đủ lực để thể hiện những bài hát của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang. Chính Nguyễn Trung Vinh là người giới thiệu ca sĩ Elvis Phương để tập thử (cả hai quen biết nhau vì đều học chung trường Lasan Taberb). Ngay từ lần ráp với nhau đầu tiên, tất cả mọi người đều cùng xác nhận rằng Elvis Phương chính là mảnh ghép cuối cùng cho Phượng Hoàng cất cánh.

Bài hát đầu tiên mà nhóm Phượng Hoàng bắt đầu tập với nhau để trình diễn, là bài Tôi Muốn của nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Điều này lại càng khẳng định rõ hơn ý chí quyết tâm đi con đường nhạc trẻ Việt hóa của nhóm Phượng Hoàng, chứ không như nhiều ban nhạc ở Sài Gòn lúc đó thường phải pha trộn những bài hát của Mỹ và Pháp trong chương trình biểu diễn của mình. Việc chọn bài hát của Lê Hựu Hà là bài đầu tiên để tập, cũng cho thấy tính cách rất đàn anh của Nguyễn Trung Cang.

Chi tiết cuối cùng cho thấy, những thành viên trong ban nhạc Phượng Hoàng sau năm 1975 phần lớn đều rơi vào nghèo khổ, bế tắc con đường sáng tác và biểu diễn bởi xã hội mới và chế độ kiểm duyệt. 

Với nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang, theo lời của người mẹ kể lại, thì đã bệnh mà chết do một điều đơn giản là anh bị cảm nặng, mà ở nhà không còn đồng nào để mua thuốc.

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà thì càng về sau, càng bị trầm uất nặng với thời thế và cuộc đời riêng. Anh trở về nhà vào một tối khuya và chết lặng lẽ, đến mấy ngày sau mới có người biết đến.

Nhạc sĩ Nguyễn Trung Vinh sau khi đi học tập về (vì là lính nhảy dù VNCH) thì kể từ đó lang thang rày đây mai đó, không biết làm gì để sống. Có giai đoạn anh được nhạc sĩ Mặc Thế Nhân cưu mang và suýt nữa đã đi tu. Ở tuổi 45, khi có gia đình lần 2, ông thử làm qua nhiều nghề nhưng thất bại, bao gồm cả đi bán vé số và lơ ngơ bị gạt tiền, lỗ vốn. Cho đến hôm nay, trên 70 tuổi ông và vợ vẫn ở căn phòng chưa đến 16m2 thuê tại Lái Thiêu, với sự tương trợ của xóm giềng. Điều thú vị là người vợ hiện nay của Nguyễn Trung Vinh cũng là quân nhân VNCH, trước đây bà làm thư ký tại Bộ Tổng Tham mưu.


-------
Ghé đến thăm sau chuyến của nhà thơ Lý Đợi, gởi ít quà để cho vợ chồng anh Nguyễn Trung Vinh ăn Tết Tân Sửu, nhưng khi tận mắt chứng kiến mới thấy, tất cả chỉ là muối bỏ biển với một đời người đã quá đỗi nhọc nhằn.

Vì vậy sau bài viết này, nếu quý anh chị nào có lòng tương trợ xin nhắn tin riêng để lấy cách liên lạc, nhằm quý vị có thể tận tay giúp đỡ. Trên những bức ảnh để trên FB, chỉ có thể thấy nụ cười tượng hình của đôi vợ chồng già đang đùm bọc đi về ngày tháng tận, nhưng nếu có dịp đến tận nơi các anh chị sẽ thấy được những giọt nước mắt vui mừng đầy cảm động của những người Saigon năm tháng cũ.

* đánh dấu trong ảnh cũ, là nhạc sĩ Nguyễn Trung Vinh thời trẻ, lúc ấy ông 31 tuổi.

Saturday, January 16, 2021

Trần Huỳnh Duy Thức và cột mốc 50 ngày tuyệt thực

Những tin tức về Trần Huỳnh Duy Thức và cuộc tuyệt thực của ông đang rất lẫn lộn. Nhưng điều quan trọng nhất, cho thấy là việc đòi hỏi xét lại án tù dài hạn vô lý của ông Thức đưa ra, là một ca khó cho những người cầm quyền tạm ở Hà Nội lúc này: Không ai muốn chịu trách nhiệm để giải quyết, và bên cạnh đó, vẫn có thể Thức là một lá bài quan trọng để thương thảo với bên ngoài cho phía nhà cầm quyền, vốn sau đại hội 13 sẽ phải đối phó rất nhiều thứ.

Ông Thức có vẻ tạo được những sự “ủng hộ” nào đó từ phía trại giam Nghệ An, nơi những người quản lý trại ở đây nói với ông Thức lẫn cả gia đình, rằng họ ủng hộ một cách hoàn toàn việc đòi hỏi công lý cho bản án của ông Thức, kể cả khi ông Thức khởi động chương trình tuyệt thực của mình.

Thế nhưng, sau 48 ngày, kể từ khi có nguồn tin cho biết ông Thức có thể đã rơi vào trạng thái hôn mê, chi phí quản lý trại giam đã đưa ông Thức đi cấp cứu ở bệnh viện Ba Lan, trong tỉnh.

Thông tin về việc cán bộ trại giam Nghệ An “ủng hộ” ông Thức đòi công lý có cái gì đó hơi khác thường. bà Yến, chị của ông Thức cho biết rằng cán bộ của trại nói họ cũng sẽ đồng hành với ông Thức trong việc chuyển những đơn yêu cầu tái xét bản án đến những nơi cần thiết. Thế nhưng trong suốt hơn một tháng ông Thức tuyệt thực, dường như đã không có thông tin nào cụ thể và thiết thực cho biết rằng đường đi của những lá đơn đó đến đâu, và được phản hồi như thế nào.

“Trong trường hợp  thật sự có “đồng hành”, người ta sẽ đề nghị một cán bộ cấp cao nào đó đến để nói chuyện với ông Trần Huỳnh Duy Thức  Trì, nhằm tạm ngăn chận cuộc tuyệt thực kéo dài sẽ gây ảnh hưởng không tốt, vì bất kỳ ai cũng biết rằng trong thời điểm trước đại hội đảng, sẽ gần không thể có một quyết định nào mang tính tích cực dành cho ông Thức. Đồng hành với hiện trạng diễn ra, có thể coi là một cách khuyến khích ông Thức hủy hoại bản thân mình mà không có lối thoát”, Một cán bộ về hưu giấu tên bình luận như vậy.

Vào ngày tuyệt thức thứ 48, (10/1/2020) - tức sau một ngày gia đình của ông Thức quyết định đến Nghệ An, Trại giam số 6, Thanh Chương, nhất quyết đòi gặp mặt ông Thức để biết tính mạng sống còn của ông như thế nào – tin tức từ trong trại bí mật lọt ra cho biết ông Thức rơi vào trạng thái có thể là hôn mê và được điều trị cấp cứu ở bệnh viện Ba Lan. Và ngay cả những người cán bộ ở trại giam này, khi tuyên bố “đồng hành” với ông Thức cũng giấu nhẹm tin tức này.

Gia đình của ông Thức hoàn toàn không biết gì về chuyện này. Tuy nhiên, nguồn tin riêng của các tòa sứ ngoại quốc tại Việt Nam thì khác. Ngày thứ 49, tòa đại sứ Đức ở Việt Nam đã liên lạc với cấp ngoại giao của Việt Nam, và yêu cầu được biết về tình hình ông Thức ra sao. Thế nhưng câu trả lời là mọi thứ vẫn ổn. Ngay sau đó, tòa đại sứ quán Mỹ ở Việt Nam đã liên lạc với gia đình ông Thức tại Sài Gòn và xác nhận rằng ông Thức được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện ngoài trại giam.     

Trên trang facebook có tên Trần Huỳnh Duy Thức, có phát đi dòng thông cáo, sau đó:

“Trong chiều ngày 13/01/2021, gia đình nhận được tin từ Đại sứ quán Mỹ cung cấp thì anh Trần Huỳnh Duy Thức thật sự đã được đưa đến bệnh viện, ngoài ra họ không có thêm bất kỳ thông tin nào khác.

Gia đình (của ông Trần Huỳnh Duy Thức) đang vô cùng bối rối và lo lắng trước tình hình này. Tính đến ngày hôm nay chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía Trại giam 6 về Đơn yêu cầu cung cấp thông tin chúng tôi đã gửi gấp vào ngày 11/01/2021. Chúng tôi cần các cơ quan chức năng Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình và trả lời chúng tôi về tình trạng hiện tại của anh Trần Huỳnh Duy Thức!”.

Được biết, trong những ngày ông Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực, mỗi ngày ông phải ký vào một phiếu xác nhận ông đã không nhận khẩu phần thức ăn của trại. Từ sau một tuần tuyệt thực, ông Thức được bác sĩ của trại giam theo dõi mỗi ngày về huyết áp và tim. Vào ngày tuyệt thực thứ 25 và 42, ông Thức có ngất đi, té nhưng may mắn là không nguy hiểm. Theo gia đình cho biết, ông đã sụt 9kg kể từ khi tuyệt thực và đường huyết thường xuyên ở mức 1.8.

Nhiều phóng viên ở nước ngoài cũng như giới truyền thông tự do trong nước gọi điện thoại đến bệnh viên Ba Lan, thành phố Vinh để thăm hỏi, thì lại bị diễu cợt bởi người nhận máy “biết rồi, bệnh nhân của anh là bệnh nhân Trí Thức, hiện đang nằm ở Trại 6. Ừ, Duy Thức chứ không phải là Duy Ngủ”. Phía trả lời của bệnh viện cũng phủ nhận ông Thức có nhập cấp cứu, nhưng họ trả lời rất rành mạch về nhân thân ông Thức.

Dĩ nhiên, nếu không nhận được hướng dẫn từ Trại giam số 6, ở bệnh viện không thể trả lời suông sẻ và nhanh chóng như vậy.

Theo mô tả của một người có kinh nghiệm về trại giam, xin giấu tên, cho biết, Nếu trong tình hình khẩn cấp thì trại giam sẽ lợi dụng lúc người tuyệt thực vào hôn mê, sẽ đưa đi bệnh viện để vào nước biển và đạm. Thậm chí có thể là chích cả thuốc ngủ để có thể kéo dài việc tạm nuôi sống người tuyệt thực. Đặc biệt là vào thời điểm trước đại hội Đảng lần thứ 13, trại giam sẽ không dám để cho ông Thức chết.

Nhưng dù như thế nào, tính đến ngày 15/1/2020, khi chưa hề có bất kỳ một lời tuyên bố ngưng tuyệt thực nào của ông Trần Huỳnh Duy Thức, điều đó cũng đồng nghĩa rằng cuộc tuyệt thực của ông đã kéo dài đến ngày số 53. Điều đáng nói, lợi dụng việc ngăn cách do dịch covid-19  trại giam số 6 Nghệ An đã vẫn đang giấu nhẹm không cho người nhà của ông Trần Huỳnh Duy Thức  được biết thật sự sức khỏe của ông lúc này như thế nào. Quả là một cuộc “đồng hành” đáng nhớ.

Mỗi ngày trôi qua, khi chưa có bất kỳ một lời tuyên bố ngừng tuyệt thực nào của ông Trần Huỳnh Duy Thức, điều đó có nghĩa là cột mốc lịch sử của cuộc chiến đấu bằng mạng sống của ông, vẫn đang được cộng thêm từng ngày.

Lịch sử của những cuộc tuyệt thực với kết cục đau đớn được ghi nhận trong lịch sử, có tù nhân chính trị Wilmar Villar, 31 tuổi, 2012 tại bệnh viện Santiago (Cuba) sau 50 ngày tuyệt thực. Xa hơn, có nhân vật chính trị người Ireland, nghị viên Bobby Sands, dẫn đầu Một cuộc tuyệt thực tập thể, và qua đời ở ngày thứ 66.

Sunday, January 10, 2021

Hy vọng, và dấn tới

Vậy rồi, một chút gì đó về hai nhạc sĩ nhạc trẻ tiền phong Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang cũng đã được tập hợp lại, ra mắt trong đầu năm 2021. Cầm sách trên tay mà thật cảm động.

Dự án này, 3 năm trước đã được nhà thơ Lý Đợi đi mời chào với nhiều người. Trong suốt những năm tháng tạm dừng giới thiệu thơ của mình với công chúng, Lý Đợi lặng lẽ tự dựng nên một chuỗi ấn bản của mình về con người và văn hóa riêng của Sài Gòn. Tất cả những gì tản mát và có thể rơi rớt đâu đó, được tập hợp lại, in đẹp, trang trọng ra mắt chờ người đồng cảm với mình.

Lần đầu tiên, khi được rủ rê nhập cuộc với cuốn sách này, tôi đã ngần ngại "được không, với cái cách kiểm duyệt của chế độ này?". Lúc đó, Lý Đợi không dám chắc bất kỳ điều gì, nhưng bản tính lì lợm của một tay Quảng Nam, hắn cứ thúc "cứ làm, cứ dấn từng bước thôi anh".

Ngày cuốn sách ra đời, Lý Đợi gọi và nói với giọng vui mừng rằng "phần viết của anh, chỉ sửa cách gọi, đúng có một chữ". 

Tôi nhớ, hình như đó là chữ 'Cộng sản', được đổi thành chữ 'miền Bắc'. 

Cuộc trường chinh cắt gọt linh hồn chữ nghĩa chưa bao giờ thôi ám ảnh giới văn nghệ Việt Nam, sau nhiều thập niên. Nó không chỉ ám ảnh với người sáng tạo mà với cả một thể chế. Sau 45 năm chơi trò cút bắt, thậm chí là hình sự đối với âm nhạc miền Nam, lệnh tha bổng tương đối đã được ban hành cho bất kỳ ai muốn ca hát và biểu diễn - như một cách để giới kiểm duyệt tạm chấm dứt cuộc săn đuổi đầy mệt mỏi và vô nghĩa của mình sau bấy nhiều năm. Dù phải sửa một tên gọi trong toàn bộ bài viết thôi, ấy cũng có thể coi là một bước tiến vĩ đại của tư duy kiểm duyệt đã từng.

Lý Đợi nói đúng, dù như thế nào chúng ta vẫn phải dấn tới. Dù ngột ngạt hay trói buộc thế nào thì kẻ được gọi là trí thức vẫn phải dấn tới về phía tương lai và tự do của mình. Ấn bản Phượng Hoàng cầm trên tay nhắc tôi không biết bao nhiêu điều. Tôi nhớ nụ cười buồn bã của anh Lê Hựu Hà khi nghe những bài hát của anh không được cho phép trình diễn hay phát hành. Nhớ cả tiếng thở dài của nhạc sĩ Thanh Sơn, Trần Quang Lộc, Mặc Thế Nhân... khi phải vật lộn để bảo vệ từng ca từ, nhớ sự tổn thương của họ khi phải chứng minh mình là một nghệ sĩ "trong sạch" trong mắt nhìn của cơ quan kiểm duyệt.

Tôi nhớ cả u ám phần mình. Bài hát Dối Trá có ca từ mô tả nhân vật là "người", bị báo cáo mật từ Sở văn hóa gửi về Cục biểu diễn xin lệnh cấm hoạt động văn nghệ suốt đời, vì cho rằng chữ "người" ấy, là một âm mưu xúc phạm, ám chỉ ông Hồ Chí Minh.

Thật may mắn, vì tôi đã chứng kiến được những ngày tháng khắc nghiệt nhất, và những giờ phút những trói buộc đó lơi dần, thậm chí chứng kiến ngôn luận từ  hệ thống đó còn tự trách, vì đã quá khắt khe trong suốt một thời gian dài. 

Chỉ tiếc là những người của thế hệ mà tôi biết, họ đã không được tận hưởng đủ những giờ phút như thế này. 

Tôi nhớ vào những ngày tháng cam go nhất, vào những lúc có những luật lệ bất thành văn từ các quan lại văn hóa "một album 10 bài hát, chỉ được sử dụng tối đa 3 bài hát của các tác giả của chế độ cũ", những nhạc sĩ ấy vẫn miệt mài viết, vẫn hát - dù có thể không được duyệt - nhưng họ vẫn tin rằng một ngày nào đó mọi thứ sẽ phải thay đổi, và âm nhạc thật sự sẽ lại lên tiếng.

Cuộc sống chỉ có thể tốt hơn, chứ chẳng bao giờ có chuyện tốt nhất. Nhưng sẽ chẳng bao giờ có sự tốt hơn nào, nếu từ chối hy vọng và dấn tới, chấp nhận cam chịu.

Cũng vì suy nghĩ này, năm 2007, tôi đã quyết định phủ nhận tất cả mọi sự kiểm duyệt, để bắt đầu như một người tự do hoàn toàn, bằng album Bụi Đường Ca. Mà thật lòng lúc đó không dám nghĩ rằng sẽ có một ngày, mọi thứ không kiểm duyệt trên internet như hôm nay. Đơn giản, tôi chỉ muốn đứng về phía những người đi trước, chia sẻ cùng cảnh ngộ với họ.

Cảm ơn, cuốn sách ra đời, như một dịp để nhớ, và tưởng niệm đến tất cả những văn nghệ sĩ của miền Nam đã sống, đã viết, và đã hát với tinh thần tự do trong mọi hoàn cảnh, ở mọi phương trời. Họ là những kẻ bị xô đẩy vào góc tối nhưng vẫn hy vọng và dấn tới. Xã hội âm nhạc hiện hành VN hôm nay là một chứng minh. 

Thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được những tin nhắn của những người bạn trẻ hỏi là phải làm sao trước thời cuộc hôm nay. Cầm cuốn sách trên tay, đọc về những sự tự do trong văn hóa miền Nam đã từng có, tôi chỉ muốn nói rằng chúng ta hôm nay, cũng vậy, phải luôn hy vọng và dấn tới trước những barie độc tài, mới có thể tìm thấy những bến bờ khác chờ đón, phía ngoài của ràng buộc ao tù, kiểm duyệt.

Dù là giành lại cái đã có, hay tìm đến đường biên mới, đừng bao giờ từ bỏ niềm hy vọng và luôn dấn tới, của mỗi người.

Wednesday, December 23, 2020

Mừng Giáng Sinh từ một người ngoại đạo

Mùa Giáng Sinh năm đại dịch thứ nhất, thật thú vị khi được nghe một tu sĩ Phật giáo kể chuyện ngày Chúa sinh ra. Trong ngôi chùa nhỏ của hòa thượng Thích Thiện Minh, bữa cơm ngày cuối năm, ông kể lại nhiều kỷ niệm thời ngồi tù chung với các linh mục, các tu sĩ của Hòa Hảo, Cao Đài… và cả các sĩ quan của chế độ VNCH tại Xuân Lộc, Đồng Nai.
Hình ảnh cả ngàn người tù chia nhau một không gian chật chội, nhưng đầy yêu thương, như hiện ra trước mắt. Hai nhân vật của tôn giáo lớn là linh mục Trần Đình Thủ (1906-2007) và hòa thượng Thích Đức Nhuận (1924-2002) được mô tả là những thủ lãnh tinh thần của tất cả mọi người, cố gắng xây dựng một nơi hà khắc thành những nơi chia sẻ, an ủi lẫn nhau.
Ngài Thích Thiện Minh kể rằng Giáng sinh hàng năm nơi trại tù ấy, ngài linh mục Trần Đình Thủ luôn tính đủ số các tù nhân trong trại, và thuyết phục cán bộ để cho mọi người được nhận những phần quà và tiền lưu ký (tiền gửi vào trại, để tù nhân có thể mua hàng, thức ăn trong trại) lớn hơn ngày thường, cùng mừng một ngày lễ Giáng Sinh. Đức hy sinh và uy tín của linh mục hàng năm vẫn làm được điều đó, thậm chí khiến các cán bộ cũng đồng ý làm việc nhiều hơn để đạt được yêu cầu của ngài. Theo lời kể, lúc đó mỗi người tù chỉ nhận được 20.000 đồng tiền lưu ký, với chữ ký chấp nhận của cán bộ trại. Mùa Giáng Sinh, linh mục Trần Đình Thủ nhắn ra ngoài vận động, không để sót một ai trong số cả ngàn người tù, nên có đủ phiếu hợp lệ nhận tiền của từng người, các cán bộ trại phải chia nhau ký, mất đến mấy ngày mới đủ số phiếu theo yêu cầu của ngài.
Một miếng bánh, một điếu thuốc… là những món quà quý trong những ngày như vậy. Mỗi tù nhân không phân biệt là ai, đều được nhận cùng với lời chúc hy vọng cho bản thân mình và cho mọi người. Chúa thật sự đã ở cùng anh chị em trong những giờ phút đó. Dĩ nhiên, lễ tôn giáo thì không được nhìn nhận trong trại giam nên khi chúc nhau, mọi người đều nói nhỏ với nhau, mừng Giáng sinh an lành.
Thậm chí có một mùa Giáng Sinh, thấy mọi người phải đi lao động cực nhọc quá, linh mục Trần Đình Thủ từng trực tiếp gặp cán bộ trại, xin rằng nếu phần lao động đó được quy bằng tiền, ông muốn được đại diện cho tất cả tù nhân, tạo quy chế mới để ngày chỉ đi lao động 4 tiếng thôi, còn bao nhiêu thành tiền, mỗi tháng ông sẽ nhờ người đến trại để nộp vào. Dĩ nhiên, điều đó không được ban quản lý trại giam chấp nhận, nhưng lại là một kỷ niệm không thể nào quên đối với những ai đã từng có thời gian ngồi tù với ngài.
Phía Phật giáo cũng vậy, hòa thượng Thích Đức Nhuận cũng cố vận động, chia sẻ cho mọi người vào ngày Phật Đản. Cũng tương tự như cách làm phía Công giáo, ngày lễ này cũng là một ngày mà mọi người cùng được chút khác biệt. Hai vị linh mục và hòa thượng này ở trong tù, với nhau như bạn thân, luôn chia sẻ cách làm và giúp đoàn kết các người tù với nhau.
Quà Phật Đản cũng đặt ở trên đầu chỗ ngủ mọi tù nhân, không phân biệt là ai. Có năm, quà chia chậm, thấy mình chưa có, linh mục Trần Đình Thủ đi qua phía trại giam của hòa thượng Thích Đức Nhuận, cười hỏi “Sao Phật Đản mà tôi chưa được quà?”. Lập tức hòa thượng Thích Đức Nhuận chắp tay xin lỗi – thật sự - nói sơ xuất chậm trễ, rồi tự tay trao quà cho ngài.
Chuyện kể, chỉ để thấy rằng tôn giáo không có biên giới. Nếu sống với kim chỉ nam là tình thương và lòng từ bi, mọi sự khác biệt đều là thứ tầm thường nhất. Sự thân thiết và chia sẻ của hai vị lãnh đạo tôn giáo tại trại giam vô thần, luôn là bài học lớn cho đời sau.
Hòa thượng Thích Thiện Minh, người kể lại câu chuyện cũng là một tù nhân 26 năm, có cơ duyên gặp được cả hai vị linh mục và hòa thượng trong trại Xuân Lộc, Đồng Nai

Câu chuyện Giáng sinh của những năm rất xa được kể lại, cho thấy yêu thương và hòa đồng là điều đã luôn có, nhưng luôn mất đi hay bị thao túng vì chính trị.
Trong cuốn Lasting Happiness in a Changing World do nhà báo Douglas Abrams ghi lại cuộc trò chuyện phi thường của hai người bạn thân là Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 và Tổng Giám Mục Nam Phi Desmond Tutu, cũng cho thấy, khoảng cách và sự chia rẽ do con người tạo ra chỉ có thể cùng những âm mưu và thấp hèn. Cùng một động tác khi cả hai con người vĩ đại này bày tỏ với nhau – đặt tay lên tim – Đức Tổng Giám Mục nói đó là chân thành và yêu thương, còn Đức Đạt Lai Lạt Ma thì nói đó là từ bi, quảng đại.
Rõ là chẳng khác biệt gì, khi mọi người đến với nhau bằng những điều tốt đẹp nhất và tự giải thích nó bằng suy nghĩ tử tế nhất.
Mùa Giáng Sinh năm nay, không thấy nhiều các thầy tu lừng danh lẫn vô danh bên Phật giáo quốc doanh lên tiếng chống đối lễ mừng Chúa sinh ra của người công giáo. Cũng không thấy các công văn chỉ đạo từ ai đó đòi dẹp bỏ những hình ảnh Công giáo trong các trường học trẻ em. Từng năm như vậy trước đây, các ngôn luận đó luôn là loại gai độc làm nhói đau trái tim của tất cả những người tử tế, yêu tự do tôn giáo trên đất nước này.
Chưa hẳn Giáng Sinh năm nay là một giáng sinh thật sự an lành tại Việt Nam, khi vắng bớt những điều như vậy. Vì trước đại hội Đảng, mọi thứ ổn định xã hội là điều tối cần thiết, hơn là thực hiện nhiệm vụ thường ngày của các loại thầy tu, quen hành động báo công như vậy.
Cuộc sống vẫn mở ra với hướng đi tự nhiên, chọn lựa thanh bình cho mình và cho người. Tất cả từ sâu thẳm trái tim của mình. Thật đáng xấu hổ, nếu như cuộc sống ngoài đời lại thiếu tình thương và sự hòa đồng tôn giáo, thua cả những Giáng sinh khốn khó trong các nhà tù.

 

------

·     • Linh mục Trần Đình Thủ (1906-2007) là người sáng lập ra Dòng Đồng Công tại Việt Nam từ năm 1953. Trong một thời hai thập niên 60 và 70, sự phát triển mạnh mẽ của dòng tu này khiến những người chứng kiến phải khâm phục. Hoạt động của Dòng Đồng Công Là tập trung vào việc phát triển giới trẻ và mở rộng tất cả những hoạt động hỗ trợ cho giáo dục cho thanh thiếu niên nghèo. Tháng 6/1976, linh mục Đa Minh Maria Trần Đình Thủ bị chính quyền mới bắt giam lần đầu (giam trong một năm) cùng với 52 người của nhà Dòng tại Di Linh, mà lý do cho đến hôm nay vẫn mù mờ. Theo nhiều người kể lại, phía công an bắt giam nói khám phá tài liệu dạy giáo lý cho tín hữu của Dòng Đồng công do Linh mục Đa Minh Maria Trần Đình Thủ soạn thảo, mang tính chất tuyên truyền phản động chống Đảng và nhà nước XHCNVN. Thật khó giải thích, vì các tài liệu giáo lý này dạy rằng phải vâng lời và tín thác cho Chúa chứ không vì điều gì khác. Án tù (bắt lần hai, từ năm 1987) của linh mục Trần Đình Thủ là 20 năm, nhưng ngài chỉ ở có 6 năm thì được trả tự do, do sự vận động của nhiều nơi.

·     • Hòa thượng Thích Đức Nhuận (1924-2002) là một bậc trí giả, ngài vừa là giáo sư triết học Phương Đông của đại học Vạn Hạnh, vừa là chủ bút của của nguyệt san Vạn Hạnh và Hóa Đạo, cũng là chánh thư ký viện Tăng Thống Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (từ 1967 đến 1973). Năm 1985, ngài bị chính quyền mới kết án âm mưu, tổ chức chống cách mạng, do đó có cùng thời gian được gặp gỡ và làm bạn với linh mục Trần Đình Thủ. Ngài ngồi tù 9 năm, và về chùa Giác Minh tĩnh tu vào năm 1993. Từ năm 1977, hòa thượng Thích Đức Nhuận đã bày tỏ chính kiến và sự khác biệt với chính quyền mới. Nhiều bài phân tích và tuyên bố của ngài đã gây xôn xao trong lòng người miền Nam lúc đó. Bản cáo trạng phát đi năm 1977 của ngài là một ví dụ. Trong đó, ngài viết “Nạn nước không từ ngoài tới, mà bi thảm thay, lại do chính con người Việt Nam, mất linh hồn, chối bỏ dân tộc, từ chối giá trị làm người, cam tâm làm tôi tớ cho ngoại bang... xô đẩy đồng bào đất nước ta vào cuộc chiến tranh lửa đạn, một cuộc chiến tranh tàn bạo, nhơ bẩn, phi lý, chỉ nhằm phục vụ ý thức hệ và quyền lợi của khối Quốc tế Vô Sản… Hiện đồng bào mọi giới đang phải nép mình sống cuộc đời tù ngục, mất hết tự do kể cả thứ tự do tối thiểu cần có dành cho con người là quyền cư trú, đi lại, làm ăn sinh sống cũng đã bị nhà nước ngụy quyền cộng sản hạn chế, ngăn cấm.” (trích)

-------