Saturday, September 10, 2022

Nhạc sĩ Vinh Sử ra đi, sau 10 năm bạo bệnh


Công chúng và giới trình diễn của dòng bolero không quá bất ngờ khi hay tin nhạc sĩ Vinh Sử qua đời: Nhiều tháng nay, ông phải nằm trong bệnh viện trong tình trạng sức khỏe đã suy kiệt. Vào lúc 3 giờ sáng ngày 10 Tháng Chín, ông qua đời ở Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Quận Bình Thạnh. Hưởng thọ 78 tuổi.

Được biết tang lễ của ông được tổ chức tại nhà riêng ở quận Bình Tân, Sài Gòn trong 4 ngày (10 đến 14 Tháng Chín). Lễ di quan diễn ra vào sáng 15 Tháng Chín 2022, và an táng tại nghĩa trang Hoa viên Bình Dương.

Suốt mười năm nay, chứng ung thư trực tràng đeo đuổi và khiến cho gia đình hết sức vất vả chữa trị, gần như vài tháng là ông phải nhập viện cấp cứu. Khoảng từ năm 2018 đến nay, mọi hoạt động văn nghệ của ông như dừng hẳn, do sức khỏe quá kém. 

Nhạc sĩ Vinh Sử là người có thu nhập tốt trong sinh hoạt văn nghệ nhưng không dành dụm được gì, đời khó lại ngày càng khó vì tiêu tán trong việc chạy chữa căn bệnh trường kỳ. Rất nhiều khán giả, nghệ sĩ thương mến đã cùng góp sức để giúp ông đi qua những chặng ngặt nghèo.

Theo Wikipedia, nhạc sĩ Vinh Sử sinh ngày 9 Tháng Sáu năm 1944 – mất ngày 10 Tháng Chín năm 2022, tên đầy đủ là Bùi Vinh Sử, là một nhạc sĩ của nhạc bolero và có nhiều sáng tác được yêu thích. 

Ông là người có quê gốc miền Bắc. Cha mẹ của ông từ Hà Tây đi làm phu đồn điền cao su cho Pháp, lưu lạc vào miền Nam trong thập niên 1940. Sau đó gia đình chuyển về Sài Gòn, sinh sống bằng nghề làm lò bún trong một xóm lao động nghèo ở quận 4. Gần 10 tuổi, ông mới đi học. Ông cũng là người duy nhất trong số 4 anh chị em trong gia đình được đi học. Ông từng có 4 đời vợ chính thức nhưng hiện tại sống một mình. Những ngày cuối cùng của ông, người chăm sóc và gần gũi là bà Ngọc Lệ, một trong những người vợ cũ của ông.

Từ nhỏ Nhạc sĩ Vinh Sử đã có năng khiếu thơ và âm nhạc, trong khi cả nhà không ai biết chữ. Ông bán báo để lấy tiền vừa đi học nhạc, học chữ đến năm 11, 12 tuổi. Nhờ có năng khiếu, ông vào được trường Quốc gia Âm nhạc của VNCH. Học được không lâu, ông bị đuổi vì ham chơi, ngày nào cũng trốn học. Bài đầu tiên ông viết là Yêu người chung vách, rồi Nhẫn cỏ cho em, không ngờ may mắn được khán thính giả yêu thích khiến ông nổi tiếng.

Cuộc đời của nhạc sĩ Vinh Sử từ đó bước qua ngã mới, đời sống ông sung túc hơn. Tâm tình trên truyền hình về thời hoàng kim của ông trước năm 1975, nhạc sĩ Vinh Sử nói rằng nhờ có âm nhạc mà ông thoát khỏi nghèo đói. Ông mua được nhà, xe và sống cuộc đời không còn phải đi bán báo dạo như trước.

Dòng nhạc của nhạc sĩ Vinh Sử gần gũi với công chúng, bởi vì đó là những câu chuyện đời, chuyện tình của những người nghèo khó, những khía cạnh của đời sống đô thị bình dân. Nói trên truyền hình trước đại dịch, nhạc sĩ Vinh Sử tâm tình “mình viết là dành cho những người nông dân, những người lao động. Tôi đã gởi hết toàn tâm toàn ý của mình vào đó và cũng nhận được sự hưởng ứng của đông đảo công chúng lao động nghèo. Tôi nghĩ rằng nhạc của mình cũng là tiếng nói của một bộ phận nhân dân. Nghe nhạc của tôi, những người lao động nói rằng đó là nhạc của người Việt Nam, không lai căng".

Sau năm 1975, nhạc sĩ Vinh Sử có một đời sống khó khăn không khác gì những văn nghệ sĩ khác của miền Nam Việt Nam. Về sau, ông nhận làm biên tập cho các hãng thu âm (vào thời kỷ nhạc bolero quay trở lại, giữa cuối thập 90) nên đời sống khá hơn. Do là người không bày tỏ về các quan điểm chính trị, và lý lịch sáng tác của ông không nổi cộm về đề tài lính Việt Nam Cộng Hòa như các nhạc sĩ khác, nhạc sĩ Vinh Sử dần dần được quay trở lại đời sống sinh hoạt xã hội. Với sự nổi bật riêng lẻ của ông cũng như cách thiếu tin tức lịch sử âm nhạc của miền Nam Việt Nam - hoặc cố ý của báo chí nhà nước mới, ông được đặt cho cái tên “vua nhạc sến”. Cái tên này cũng gây nhiều tranh cãi trong giới khán giả, cũng như nghệ sĩ miền Nam Việt Nam trong và ngoài nước.

Trên wikipedia viết về ông, cũng còn ghi chú rõ về việc nhiều bài hát đang tranh cãi về quyền tác giả. Trong đó có những tác giả quen thuộc như Giao Tiên (xác nhận mình là tác giả của các bài Lần đầu nói dối, Nàng yêu hoa tím, Tình đẹp mùa chôm chôm…), Đài Phương Trang (xác nhận mình là tác giả của Đêm nhớ người tình, Hai mái nnà tranh, Tình đời tay trắng…)... Tranh cãi về quyền tác giả còn có cả những nhạc sĩ nổi tiếng như Anh Bằng, Hàn Châu, Phạm Minh Cảnh…

Giải thích về điều này từ Cam Ranh, nơi sinh sống của mình, nhạc sĩ Giao Tiên cho biết rằng giai đoạn âm nhạc bolero được quay trở lại trong bối cảnh tranh tối, tranh sáng, và cũng có sự kỳ thị chủ đích nhân thân của các tác giả, có nhiều người qua tình bạn đã cậy nhờ nhạc sĩ Vinh Sử tìm cách giúp để ra mắt CD, mong kiếm thêm được chút ít. Có bài nhạc sĩ Vinh Sử lấy, để tên của mình, có bài thì ông đặt ra một cái tên mới, bao gồm cả những bài hát của hải ngoại lúc đó không được phát hành tại Việt Nam. Trong trường hợp của nhạc sĩ Giao Tiên, lúc đó vì đời sống quá khó khăn, không còn nhà, phải dọn lên núi ở; ông đi xe đò vào Sài Gòn, cầm theo cả một tập 50 bài nhờ nhạc sĩ Vinh Sử phát hành, và xin nhận tiền nhuận bút ngay để đắp đổi chuyện nhà (theo lệ, một bài hát được duyệt và phát hành xong rồi thì tác giả mới được nhận tiền. Thời gian chờ đợi lúc đó cũng vài tháng) . Tuy vậy cũng có tác giả đòi quyền tác giả nói rằng họ chưa hề đưa bài cho nhạc sĩ Vinh Sử.

Tất cả những việc sai lệch về tên tác giả, thậm chí của tên bài hát, là những câu chuyện riêng rối rắm của thời thế, còn chưa được bày tỏ đủ của các tác giả với nhau và công chúng. Nhưng trước hết, đó là chi tiết lý thú minh chứng của một thời âm nhạc bolero quay lại ở Việt Nam đầy khó khăn, chạy vạy đây đó để tồn tại mà nhạc sĩ Vinh Sử đã vượt qua, và thành công từ đó.

Sunday, September 4, 2022

Vì sao Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ bước ra nhận Phật sự, lại được ủng hộ?


Trong ngày cuối tháng 8-2022, ở Việt Nam xôn xao tin tức về sự ra mắt của Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, chính thức vào chức vụ Chánh Thư Ký - Xử lý thường vụ Viện Tăng Thống. Bậc minh sư lâu nay ẩn danh đột nhiên xuất hiện ở lễ nhận di chúc, ấn tín, và khai ấn từ Đệ ngũ Tăng Thống Thích Quảng Độ khiến những người yêu Phật giáo chân chính và tự do của Việt Nam đều vui mừng.

Tuy nhiên, có không ít người nhầm lẫn vị trí hiện nay của Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ là một Tăng thống mới, tức vị trí của người lãnh đạo toàn diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN). Trên thực tế, khi phụng thừa ủy thác tâm nguyện của Hòa thượng Thích Quảng Độ vào năm 2020, ngài Tuệ Sỹ đã thông báo rằng sau giai đoạn sắp xếp lại nhân sự, nội bộ lãnh đạo của GHPGVNTN, khi “điều kiện thuận duyên”, ngài cùng Giáo hội sẽ tổ chức đại hội để suy cử Đệ Lục Tăng Thống, người lãnh đạo tối cao tiếp nối của Giáo hội. Hiện tại, nói nôm na, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ có vai trò như quyền tổng quản.

Bất kỳ ai theo dõi tiến trình tồn tại và tranh đấu cho sự tồn tại của GHPGVNTN từ sau năm 1975 đến nay, đều hiểu rõ cụm từ “điều kiện thuận duyên” là như thế nào. Ngay cả việc Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ làm lễ nhận chức vụ Chánh Thư Ký - Xử lý thường vụ Viện Tăng Thống và lễ nhận Di chúc, ấn tín, và khai ấn… cũng đã phải lặng lẽ thực hiện, và chỉ công bố sau một tuần. Mục đích của sự lặng lẽ và bất ngờ, thông báo trễ, cũng chỉ để tránh những sự quấy phá rất quen thuộc từ bao nhiêu năm nay.

Trong  giai đoạn đau yếu cuối đời, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã nhận ra được sự rối loạn trong nội bộ bởi nhiều nhánh của GHPGVNTN đang có những chủ trương khác nhau. Trong đó có hai nhánh chính khiến nội bộ bất đồng: Một là dùng mượn nhân lực Giáo hội để chuyên đấu tranh chính trị; Hai là muốn thỏa hiệp với chính quyền, thông qua một số nhân vật trong nội bộ đã suy đồi. Lợi dụng lúc Hòa Thượng Thích Quảng Độ đau yếu, những nhân vật muốn thao túng nội bộ GHPGVNTN đã làm giả những Giáo chỉ, phát đi, gây mâu thuẫn không ít trong các các vị lãnh đạo của Hội đồng Giáo phẩm trong và ngoài nước.

Thoạt đầu, tâm nguyện của Hòa thượng Thích Quảng Độ là trao quyền Đệ Lục Tăng thống cho ngài Tuệ Sỹ, nhưng vì muốn mọi chuyện minh bạch và tạo sự đoàn kết nội bộ, Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ đã xin chỉ nhận quyền tạm thừa hành, để chờ thời điểm bầu chọn Đệ Lục Tăng Thống mới.

Sự ra đi của Hòa thượng Thích Quảng Độ vào tháng 2-2020, đã tạo ra một một loạt các cơn sóng ngầm. Phía những người muốn thủ tiêu GHPGVNTN, đã coi đây là cơ hội để dứt điểm cái gai trong mắt. Trong tang lễ của Hòa thượng Thích Quảng Độ, người ta chứng kiến các sư của phía Nhà nước tìm cách cướp tro cốt của ngài, đem về chùa của Nhà nước lưu giữ và thờ, như một thủ đoạn nhằm thống nhất toàn bộ Phật giáo Việt Nam trong vòng tay của thế quyền. Ngay sau đó, cũng đã có một cuộc bầu chọn chớp nhoáng Đệ Lục Tăng Thống diễn ra tại Bình Định, nhằm cướp quyền lãnh đạo. May thay, dù GHPGVNTN bị dày vò từ muôn hướng nhưng quý thầy và đệ tử vẫn giữ được sự kiên định trung thành theo Di chúc. Mọi âm mưu ấy, đã mau chóng tàn phai. Nói về những sự bất thường đó, Hòa Thượng Thích Không Tánh từng tóm tắt bằng câu nói “Chính quyền muốn quốc doanh hóa đám tang của Hòa thượng Thích Quảng Độ”.

Phải kể lại như vậy, mới thấy rằng GHPGVNTN dù bị bôi xóa, phủ nhận như thế nào, nhưng khi người lãnh đạo cao nhất của Giáo hội viên tịch, hầu hết các tờ báo lớn của nhà nước vẫn nhận được lệnh hối hả lên các bài viết mạ lị và bôi nhọ như để tự trấn an nhau. Điều đó cũng dễ hiểu, vì bởi trong lễ tang, ngoài các sư thầy của GHPGVNTN quy tụ về, còn có không ít các sư thầy ở các chùa mang bảng hiệu Giáo hội nhà nước lập nên, lặng lẽ đến cung kính lễ bái.

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đã nhận trọng trách trong bối cảnh đó.

Có một câu hỏi được đặt ra với những người kính trọng GHPGVNTN - Giáo hội Phật giáo tự do và chính danh của Việt Nam trước 1975 - đã bị nhà nước đẩy ra như là một tổ chức nằm ngoài vòng pháp luật, thì sự có mặt của thầy Thích Tuệ Sỹ có thể làm được gì?

Sự có mặt của Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ chính là ngọn đuốc thắp sáng đức vô úy của những Phật tử và những người hướng Phật trong một thế giới chập choạng không còn rõ lằn ranh Ma-Phật. Nó là điểm tựa của tư duy Phật giáo trong lành trong thời pháp nạn. Ngài là hiện thân của tín ngưỡng, đạo pháp sống và chết vì quê hương và dân tộc. Ít nhất, ngài đang là điểm tựa của những người tỉnh thức.

Tháng 4-1975, dòng tiến quân của miền Bắc vào Nam để lại phía sau vô số thương bệnh binh, những người bệnh bình thường không còn người chăm sóc. Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ là người đứng ra tổ chức các tăng ni trong vùng ở lại để chăm sóc, cứu thương cho dân chúng đang kêu khóc. Nhiều người khuyên thầy phải đi lánh nạn ngay vì những tin tức dội về từ các vùng khác cho thấy các chùa và sư thầy đang gặp chuyện khó lường. Nhưng bài diễn văn ngắn của ngài đã chặn đứng mọi âu lo, ý thức trách nhiệm con dân Việt dội về “ “Tôi vẫn còn đây, thì anh em cũng phải ở đây, quê hương và đất nước này còn cần đến anh em nhiều hơn nữa. Chúng ta không thể trốn chạy khi dân tộc, đạo pháp đang gặp cảnh điêu linh”.  

Năm 1981, Nhà nước thành lập Giáo hội Phật giáo mới, nằm dưới quyền kiểm soát của Mặt Trận Tổ Quốc và ra chiến dịch triệt hạ những nhân sĩ, tu sĩ Phật giáo có tinh thần phản kháng việc chính trị hóa tôn giáo này. Năm 1984, công an tổ chức chiến dịch, đồng loạt đột nhập Viện Phật học Vạn Hạnh và chùa Già Lam, Sài Gòn. Hai nơi này chỗ trú ngụ của nhiều cao tăng và nhân sĩ Phật giáo lúc bây giờ. Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ và Thích Trí Siêu bị bắt mang đi, lúc đó hai ngài đang dang dở công trình Bách khoa Phật học Đại Từ Điển. Tháng 4-1984, cả hai thầy bị kết án tử hình với lý do ““tội tán thành, ủng hộ, che chở, đùm bọc hành động phản cách mạng, lật đổ chế độ Cộng sản”. Phiên tòa không có luật sư và khán giả là công an. Mọi thứ là một dòng chảy dài, định mệnh, cay đắng như chính số phận của Việt Nam. Cuối cùng, với sự vận động của quốc tế, thì cả hai thầy được trả tự do, nhiều năm sau đó.

Cũng như những người Tây Tạng có một điều an ủi thầm kín và lớn lao, khi nhìn về sự có mặt của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong thời đại của mình. Có rất nhiều người Việt Nam cũng mang niềm kiêu hãnh trong trái tim đã chọn tín ngưỡng là tự do của mình, là cùng với hình ảnh của Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ. Vượt lên những huấn dụ tầm thường, để biến con người trở thành mê muội của Phật Giáo Nhà nước hôm nay như sống chỉ để cúng dường, sống để dòm ngó, hãm hại người khác… Hòa thượng Thích Tuệ sỹ hay GHPGVNTN dẫn lối đến đạo pháp và dân tộc, bằng lẽ phải và sự thật, với uy vũ bất năng khuất “Sống hay chết, vinh hay nhục, không làm dao động tâm tư của những ai biết sống và chết xứng đáng với phẩm cách của con người, không hổ thẹn với phẩm hạnh cao quý của bậc xuất gia”, (Thư gửi các Tăng sinh)

Với những đền đài ma chướng, lễ hội ngụy trá Phật hôm nay, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ tỏa sáng những khác biệt, vượt lên khỏi những rền rĩ nhảy múa từ các chùa tháp ““Các con hãy tự rèn luyện cho mình một tín tâm bất hoại; một đức tính dũng mãnh vô úy; nỗ lực tự huân tập trí tuệ bằng văn, tư, tu để nhìn rõ sự tướng chân ngụy, để thấy và biết rõ mình đang ở đâu, đang đi về đâu; không nhắm mắt phóng càn theo cỗ xe lộng lẫy bên ngoài nhưng rệu rã bên trong, đang lao xuống dốc dài không định hướng”, (Thư gửi các Tăng sinh)

Chưa lúc nào như lúc này, Phật giáo trong sự dẫn dắt của tăng ni, chùa tháp dưới quyền nhà nước không dắt tay chúng sinh đi vào cõi an nhiên, mà xô đẩy vào bóng tối, cạm bẫy và thao túng để phục vụ thế quyền. Sự có mặt của Hòa thượng Thích Tuệ sỹ cùng GHPGVNTN tựa như tiếng chuông để thức tỉnh, nhắc lại giá trị khôn cùng của người hướng Phật “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam không phải là một hiệp hội thế tục, do đó, không tự đặt mình dưới sự chỉ đạo của bất cứ quyền lực thế tục, không là công cụ bảo vệ sự tồn tại của bất cứ xu hướng chính trị, của bất cứ tổ chức thế tục nào; không hành đạo, hoằng đạo theo bất cứ định hướng ý thức hệ nào; duy chỉ một định hướng duy nhất: Thập phương Bạc-già-phạm nhất lộ Niết-bàn môn; một cứu cánh duy nhất là giải thoát”. (Công bố tháng 9-2022 của Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất - Viện Tăng Thống)

 

Wednesday, August 31, 2022

Về một người cộng sản có nhân tính


Ngày ông Mikhail Gorbachev (1931-2022), cựu tổng bí thư cộng sản cuối cùng của Liên Xô qua đời, ông nhận được nhiều lời bình từ hai phía ca tụng và căm ghét. Những người chống cộng thì nhìn ông như một con người dũng cảm đã hy sinh xé toang bức màn đen của thế giới song cực. Còn những người yêu cộng sản thì căm hận ông vì đã mang tội làm sụp đổ thành trì cách mạng vĩ đại của phía Đông thế giới. 

Đứng giữa những điều đó, Gorbachev còn hiện ra với tính cách của một nhà cách mạng của thế giới cộng sản nhưng đầy chất lãng mạn của người nông dân vùng Privolnoye, miền Nam của nước Nga.

Điều đáng ca ngợi ở Gorbachev là nhân tính. Ông nhìn mọi sự kiện quanh mình bằng con mắt của một người cộng sản trung thành, nhưng ở bên dưới là những lời chất vấn thầm lặng của một con người có nhân tính. 

Tháng 11-1969, ý thức về một hệ thống độc tài cộng sản đang hủy diệt con người bắt đầu đến với ông, trong chuyến thăm đến Tiệp Khắc. Một năm sau cuộc nổi dậy ở đất nước này, vì không muốn chịu ách cai trị của cộng sản Nga, Gorbachev kể ông bị choáng váng khi đến Bratislava, thành phố cổ kính vẫn còn y nguyên những vết đạn pháo và những bức vẽ graffiti khẩu hiệu và hình ảnh chống cộng sản và Nga. Đoàn đi thăm của Gorbachev phải tổ chức thêm cận vệ thường phục để phòng trường hợp bị tấn công. 

Theo truyền thống, phái đoàn của Nga đến thăm Sbrojevka, một nhà máy lớn của Tiệp. Thế nhưng khi được đưa vào một vị trí tốt để phát biểu và mở lời chào, Gorbachev nhận ra rằng những người thuộc giai cấp công nhân ấy đã tìm cách quay mặt đi và không nhìn đoàn của Nga. “Đó là một cảm giác khủng khiếp”, Gorbachev nhớ lại điều mà ông nhận ra rằng trong hệ thống cộng sản, ngay cả ở vị trí cao, ông vẫn được tuyên truyền rằng mọi dân tộc của giai cấp vô sản luôn là tình đoàn kết hữu nghị nồng ấm không thể tách rời.

Nhiều năm sau nhắc lại về “cú sốc đầu đời” này, Gorbachev nói rằng ý nghĩa “bức màn sắt” mà phương Tây nói về sự ngăn cách hai thế giới cộng sản và tự do là có thật, nhưng bức màn sắt nó còn nằm ở ngay trong nội bộ của chính quyền cộng sản, để bịt mắt lẫn nhau.

Phía căm ghét ông Gorbachev, nói ông là kẻ muốn đốt đền- tự tay tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản ngay ở đất nước mình - để lưu danh lịch sử. Nhưng thực ra, theo dõi cuộc đời của ông Gorbachev từ ban đầu mới hiểu rằng việc day dứt muốn làm điều đúng và khát khao thay đổi, để được làm điều đúng, là suy nghĩ của ông, có từ đầu những năm 1970.

Kể trong cuốn hồi ký của mình, Gorbachev nói ông giật mình nhận ra rằng vào lúc loài người đã đi đến mặt trăng thì Liên Xô vẫn sử dụng những phương thức nông nghiệp giống như ở thế kỷ 19. Vào lúc đó, hàng năm Liên Xô sử dụng 100 đến 110 triệu tấn làm thức ăn gia súc, trong khi các quốc gia châu Âu chỉ dùng hết gần 74 triệu tấn. Ông tự mình tìm hiểu và thấy rằng ở phương Tây thù địch, ngoài thức ăn chính, họ cộng thêm 30%  phụ gia protein, dẫn đến chuyện gia súc cân bằng dinh dưỡng, tăng trọng nhanh và các đợt nuôi gia súc nhiều hơn trong một năm. Có nghĩa là trên con đường đi tới tương lai, phương Tây luôn tìm và cải cách những điều bình thường nhất, trong khi đó ở Liên Xô, tất cả những suy nghĩ và của cải làm ra, đều được dành cho chính sách xây dựng sự lớn mạnh của công an và quân đội.

Bên cạnh đó, tham nhũng là từ ngữ mà Gorbachev không nói thẳng ra, nhưng trong phần ông ghi lại cuộc trao đổi với bí thư Trung Ương Đảng Fyodor Kulakov vào năm 1977, nhấn mạnh rằng giá thu mua nông sản của nông dân luôn là rẻ mạt, trong khi đó, những giá ngũ cốc nhập khẩu từ nước ngoài vào thì lại cao gấp 2-3 lần. Những con số chênh lệch bí ẩn đó đi đâu?  Ông Gorbachev giải thích bằng một chuyện cười phổ biến ở nước Nga vào thời điểm đó là, tổng bí thư Leonid Brezhnev trong một chuyến đi chơi với mẹ, giới thiệu một căn hộ lớn của mình tại Moskva, rồi sau đó là một căn khác Zarechye. Kế đến là về khu nghỉ dưỡng riêng tại Zavidovo, cùng đi săn. Rồi sau đó, lại nghỉ ở một cơ ngơi bí mật ở Krym. Tổng bí thư Brezhnev hỏi mẹ ông nghĩ gì về những thứ ông đang có. Bà nói “Mọi thứ tuyệt lắm Leonid, nhưng mẹ không biết con sẽ làm gì với tất cả những thứ tài sản đó khi cộng sản quay lại nắm quyền”.

Nhân tính của Gorbachev là nhìn thấy nỗi đau của con người, nhìn thấy ánh mắt căm giận của kẻ bị trị, và nhìn thấy tài sản quốc gia đang biến thành cơ ngơi, tiền của những lãnh đạo cao cấp mà luật pháp bảo vệ họ đến mức không ai dám lên tiếng. Và đó là những gì dồn đến, dẫn đến chuyện Gorbachev nói với người vợ của ông, bà Raisa rằng “Chúng ta không thể tiếp tục sống như thế này”.

Nhưng một góc khác của Gorbachev cũng cần phải được nhìn thấy rõ, đó là ông vẫn mang nặng tư duy chủ nghĩa Mác-Lê. Với một tinh thần cải cách đầy tính lãng mạn, Gorbachev vẫn muốn tồn tại một Liên Xô dân chủ hơn và nhân bản hơn, một tập hợp nhất thiết không nên để đổ vỡ. Một tập hợp với mơ ước có dân chủ và không độc tài trên nền khối xã hội chủ nghĩa cũ.

Tháng 11-1991, Gorbachev vẫn còn hy vọng khi tham gia soạn thảo “Hiệp ước của các liên bang các nước cộng hòa có chủ quyền - một nhà nước dân chủ liên bang” Nhằm xây dựng một Liên bang Xô viết khác, không theo hình thái cũ. 

Dự thảo này được công bố vào ngày 27 tháng 11 năm 1991. Một số quốc gia trong Liên bang Xô Viết cũ đã quyết định tổ chức trưng cầu dân ý để quyết định còn tiếp tục tham gia Liên Minh này nữa hay không, hay sẽ là chọn con đường quốc gia độc lập. Cuộc trưng cầu dân ý quan trọng nhất và gây tác động đến tất cả những quốc gia trong liên bang đó là ở Ukraine. Thay vì trưng cầu dân ý là có nên tham gia liên minh không, chính quyền và người dân Ukraine đã bỏ phiếu cho câu hỏi “Có nên xóa bỏ chế độ Cộng sản Liên xô hay không?”. Đi xa hơn nữa, Ukraine và Belarus còn chuẩn bị cho ra một văn bản tuyên bố hủy bỏ những nền tảng chính trị pháp lý của sự tồn tại của Liên Xô và tuyên bố xóa bỏ sự tồn tại, vốn được ngụy trang dưới sự kêu gọi hình thành Cộng đồng các quốc gia độc lập.

Lịch sử có những cung đường kỳ lạ của nó, trong bối cảnh đó, lại xuất hiện một nhân vật khác là Boris Yelstin, người được coi là va chạm gay gắt với Gorbachev cho con đường để thay đổi, nhưng đồng thời cũng hợp nhất vào công việc tạo ra một nước Nga mới. Gorbachev là người tạo ra sóng ngầm, làm chuyển động và sụp đổ tất cả những gì đang mục rữa trong lòng gã độc tài già nua. Nhưng Boris Yeltsin chính là người cưỡi trên ngọn sóng đó, tạo niềm cảm hứng và dẫn đến những cột mốc chấm dứt chủ nghĩa cộng sản trên nước Nga.

Dù hai nhân vật này là những người bất đồng với nhau. Nhưng họ đã có những sự phối hợp đầy kỳ lạ để đi đến một kết cục mới. Nếu theo dõi hồi ký của cả Boris Yeltsin lẫn Mikhail Gorbachev, có thể nhìn thấy rằng cuộc cách mạng đầu thập niên 1990 đó, nếu chỉ có một người, thì cả Gorbachev lẫn Yeltsin đều có thể bị các thế lực bảo thủ ở Nga thủ tiêu vào một lúc nào đó.

Điều mà người Việt cần nhớ về Mikhail Gorbachev, đó là một nhà chính trị chân thành. Một nhà Chính trị cộng sản mang gương mặt con người. Từ lúc bước vào con đường chính trị đến lúc ra đi, ông trung thành với chủ trương “glasnost” đã đề ra, bạch hóa tất cả những gì nhân dân muốn biết. Chuyện chủ trương công khai thảm họa Chernobyl là một trong những điều mà ông làm thế giới phương Tây phải ngạc nhiên về tính cách của một lãnh đạo cộng sản. Nói trong cuộc họp với Bộ Chính Trị ngày 3 tháng 7 năm 1986, Gorbachev làm lay động cả một bộ máy quen sống trong giả dối và che đậy “Không thể chấp nhận được suy nghĩ rằng chúng ta có thể bị hạn chế trong những biện pháp nửa vời hay lẩn tránh vấn đề. Cần có thông tin toàn diện về sự cố này. Chính sách hèn nhát là một chính sách nhục nhã”.

Gorbachev cũng là người đã đưa ra sự thật ở rừng Katyn và chính thức là người xin lỗi thay cho hành động tàn bạo của Stalin.Ngày 25 tháng 11, quốc hội Liên bang Nga bỏ phiếu thông qua nghị quyết thừa nhận vụ cảnh sát Nga sát hại 22.000 sĩ quan và công dân Ba Lan ở rừng Katyn, phía tây nước Nga, năm 1940 do nhà lãnh đạo Josef Stalin ra lệnh. Báo The Moscow News cho biết với tỉ lệ ủng hộ 342/450, Hạ viện Nga đã thông qua nghị quyết dựa trên tài liệu mật thu được từ đầu thập niên 1990. Con số phiếu thuận cho thấy vào thời điểm đó, việc chấp nhận sự thật của các quan chức Liên Xô cũ chỉ mới có được ở mức quá bán mà thôi.

Hơn hết, Gorbachev là một người thanh bạch. Ông bước vào chính trường từ tư cách là một người nông dân và bước ra khỏi nó cũng không đem theo mình bất kỳ của cải hay lợi lộc gì. thậm chí lương hưu của ông còn bị cắt xén trong sự ghét bỏ của các quan chức cộng sản còn quyền. Vào thời gian cải cách và những sự thay đổi đầy tính con người nhưng vô cùng kỳ lạ với bộ máy Cộng sản Nga Sô, một cánh bảo thủ đã chi đến 5 triệu đôla, để nhờ một công ty ở phương tây điều tra xem Gorbachev có phải gián điệp của phương Tây hay không, và có những ngân khoản bí mật nào ngoài Liên Xô không? Về sau khi biết được điều này, Gorbachev đã gửi đơn tố cáo đến Viện Công tố, nhưng cơ quan này hoàn toàn im lặng và làm lơ. Những chi tiết này có thể tìm thấy trong "Mikhail Gorbachev- Đời tôi", phát hành bản tiếng Việt năm 2018.

Hôm nay khi ông  Gorbachev ra đi, bối cảnh thế giới phức tạp hơn rất nhiều những gì ông đã trải qua. Cộng sản hôm nay tinh ranh và không còn ra vẻ Cộng sản như ngày xưa. Tư bản thực dụng hơn và sẵn sàng thỏa hiệp với tất cả những gì có lợi cho mình. Thế giới đang hòa trộn vào nhau với tất cả những sự hỗn loạn và bất dung của nó. 

Để nghĩ về một Mikhail Gorbachev, người đã tạo nên bước chuyển của thế giới, nên là ghi nhớ và trân trọng những điều tốt đẹp nhất ông đã làm được. Có lẽ không nên ca ngợi ông như một thần tượng, hoặc căm thù cho đến tận thế hệ sau. Mỗi nhân vật trên trường chính trị đều có những phần đời đúng và sai của mình. Hãy ghi nhớ những điều không thể quay lại. Và cũng cần ghi nhớ không có nhân vật nào có thể bị gán buộc sống mãi trong đời chúng ta, với những tình cảm không có sự thật.


 

Wednesday, July 27, 2022

Từ Công Phụng vào tuổi 80: Nghe lại tình khúc Ơn Em

Nhạc sĩ Từ Công Phụng trong một lần gặp mặt nhà thơ Du Tử Lê

Ngày 27 Tháng Bảy là sinh nhật của nhạc sĩ Từ Công Phụng, ghi dấu ông vào tuổi 80. Người nhạc sĩ theo đuổi những lời mặc khải về tình yêu, ngợi ca những gì đã có và độ lượng với những điều đã mất, vẫn giữ trọn vẹn cho mình dòng giai điệu sang trọng và thảnh thơi giữa kiếp người vội vã.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng là một trong những trường hợp đặc biệt của những trí thức người Chăm thành đạt và công nhận trong một chế độ tự do VNCH chuộng người tài. Ông nổi lên trên lĩnh vực nghệ thuật bên cạnh các trí thức, công chức Chăm khác – như nhà nghiên cứu văn hóa sắc tộc Dohamide, tiến sĩ sử học Po Dharma, Trung Tá Dương Tấn Sở – Quận trưởng Quận An Phước (nay là huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận), Lưu Quang Sang – dân biểu nghị viện Sài Gòn…

Cần phải nói thêm là từ khi Vương quốc Champa bị mất nước (1832), Vua Thiệu Trị đã tạo quy ước mới là cho lập quy chế đặc biệt cho dân tộc Chăm ở khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận. Và quy chế đặc biệt này tồn tại trong suốt thời kỳ Thiệu Trị, Tự Đức, Khải Định, Bảo Đại và cho đến thời Việt Nam Cộng Hòa. Quy chế này cho phép cộng đồng người Chăm được quyền gìn giữ và bảo vệ văn hóa, tập tục tín ngưỡng, đồng thời phát triển trí thức của cộng đồng mình mà không có bất kỳ một sự kỳ thị hay kềm hãm nào. Quy chế này chỉ bị hủy bỏ từ sau tháng Tư năm 1975.

Trong âm nhạc, Từ Công Phụng là một trong những nhạc sĩ rất đặc biệt, bởi viết bất kỳ ca khúc nào ra, ông cũng thích mình là người trình bày nó, rồi đến sau đó, ai yêu thích và đề nghị xin được hát thì ông mới gửi đi. Cũng chính vì vậy, Từ Công Phụng là nhạc sĩ sáng tác nhưng lại được mời lưu diễn rất nhiều để trình bày những ca khúc của mình như một ca sĩ chính, bên cạnh các ca sĩ khác, dù nổi tiếng nhưng vẫn là phụ họa cho ông.

Nói về bản thân, một thanh niên Chăm lớn lên trên vùng đất bàng bạc nắng và gió, cuộc sống tĩnh lặng với thi thoảng tiếng lục lạc của con dê đầu đàn vang lên, cùng tiếng kèn Saranai văng vẳng, Từ Công Phụng đi học, làm việc và thành đạt ở Sài Gòn, nhưng trong ông, nỗi nhớ da diết về miền quê vẫn vô cùng.

“Bạn hỏi tôi có nhớ mảnh đất cằn cỗi đầy nắng và gió cát ấy không. Vâng, đây là mảnh đất đã để lại trong ký ức tôi đầy ắp một khung trời hanh nắng trên những cánh đồng mùa Đông trơ những gốc rạ, mà tuổi thơ tôi đã rong chơi với những cánh diều lộng gió, đầy ắp những bãi cát trắng ngần bên bờ biển xanh và khung trời trong vắt không gợn một áng mây. Đây là miền đất đã chuyên chở một dòng tuổi thơ tôi cho đến lúc tôi rời khỏi mái trường trung học để phiêu lưu ở miền đất khác trong các trường đại học và từ đó bắt nhận được những rung động nồng nàn của tình yêu trong tuổi thanh xuân”, Từ Công Phụng viết.

Toàn bộ các tác phẩm sáng tác của nhạc sĩ Từ Công Phụng hợp lại như một tổ khúc thính phòng khổng lồ của đời ông: Tất cả xây dựng chung quanh chủ đề tình yêu, nỗi buồn, sự mất mát và suy tư…, còn âm nhạc như mũi kim thêu lặng lẽ, luồn vào các con chữ và tạo nên những hình dáng âm điệu – phóng khoáng và tự do đến mức mỗi bài hát như một khúc tụng ca riêng lẻ, không cùng kết nối được nghe thấy từ một thánh đường không nơi chốn.

Cũng có lẽ vì vậy mà các tác phẩm của nhạc sĩ Từ Công Phụng nổi tiếng hơn cái tên của ông. Tên bài hát thì người ta sẽ nhớ, và thậm chí là thuộc cả bài. Nhưng đôi khi phải nói ra thì công chúng mới biết đó là một tác phẩm của Từ Công Phụng.

10 năm sau khi tỵ nạn ở Mỹ, nhạc sĩ Từ Công Phụng có kể một kỷ niệm thú vị. Năm 1990 ông được mời lưu diễn ở Montreal, Canada. Để quảng bá chương trình, nhà văn Song Thao đã thử đi một vòng để làm cuộc thăm dò về cái tên Từ Công Phụng. Có đến 10 người tuổi cũng trạc thế hệ của nhạc sĩ, được hỏi là là “Có biết Từ  Công Phụng là ai không?”

Có chín người lắc đầu là không biết. Nhưng khi hỏi có biết bài Bây Giờ Tháng Mấy không thì 10 người cùng gật gù và tán thưởng “Đây là một bài hát hay, để lại nhiều kỷ niệm trong đời tôi.” Nhà văn Song Thao từng lý giải dí dỏm với Từ Công Phụng: “Anh là một người có phúc vì anh sinh ra một đứa con mà quần chúng biết đến con anh nhiều hơn anh. Con hơn cha là nhà có phúc!”.

Bản tính của Nghệ sĩ Từ Công Phụng là người trầm lắng, và cũng không hay tự nói về mình. Sau năm 1975, ông nhận thấy cuộc đời bước sang một bước chuyển mới, hoàn toàn khác với những gì mà nửa đời trước của ông đã đi qua. Do đó, ông cũng cố gắng tìm kiếm cách để hội nhập với một xã hội cộng sản – tên gọi và ý thức văn hóa hoàn toàn xa lạ với ông – như một cách thử xem ông có thể tồn tại với nó được không.

Ông cũng tìm đến những người bạn sáng tác vào thời điểm đó, hy vọng tìm thấy một nhịp đập mới sau chiến tranh.  Thế rồi ông nhận ra một Từ Công Phụng đã được tạo ra chỉ để sống với tự do, chứ không thể sống với tuyên truyền và kiểm duyệt. Nói với bạn bè, nhạc sĩ Từ Công Phụng từng tâm tình “Mỗi buổi sáng thức dậy kiếm được một ít cà phê pha cho mình và suy nghĩ về cuộc đời…, tôi luôn nghĩ đầu tiên là ngày hôm nay tôi có thể làm thế nào kiếm được một ít tiền để cơm nước cho con cái thôi, không có mơ ước gì hơn”. Năm 1980, ông quyết định vượt biển và đến được Mỹ.

Một trong những bài hát, mà khi được hát lên, người ta biết ngay đó là một tuyệt phẩm của Từ Công Phụng, là ca khúc Giữ đời Cho Nhau, cũng được biết với cái tên Ơn em, phổ thơ của Du Tử Lê. Bài hát có lời cô đọng và dễ nhớ – đặc biệt là ca khúc hiếm hoi viết có âm điệu ngũ âm, đủ các luyến láy tinh tế để các giọng ca chọn sự thể hiện riêng. Riêng về ca khúc này, Từ Công Phụng nói đó là sáng tác ông nhiệm ý thơ và viết nhanh bất ngờ trong vòng chưa đến một tiếng đồng hồ. Một kỷ lục của đời ông. Với Ơn em, ông cũng ưng ý nhất sự trình bày của ca sĩ Tuấn Ngọc.

Với bài thơ Ơn em của Du Tử Lê, Từ Công Phụng nói ông bị xúc động tức thì khi đọc qua tứ thơ chỉ có 10 câu này. Nhiều khán giả khi nghe bài hát thì chỉ thấy lời ca ngợi tình yêu, tụng ca tình nhân, nhưng ít ai biết là Từ Công Phụng xúc động với những âm hưởng như gợi lại lời ru của thân mẫu lúc ông còn thơ ấu.

Vì bài thơ ngắn nên thiếu trường canh cần thiết cho một bản nhạc, vì vậy Từ Công Phụng đã thêm vào hai câu cho đủ, đó là: Ơn em tình những mù lòa, như con sâu nhỏ bò qua rất mùi. Hai câu hát đẹp và phù hợp với trọn bài thơ. Nhạc sĩ Từ Công Phụng kể lại sau khi phổ xong, ông mang tặng Du Tử Lê như một kỷ niệm (lúc đó vẫn mang tên Giữ đời cho nhau). Bài hát làm thi sĩ Du Tử Lê hài lòng đến mức đã dùng để đặt tên cho bộ video do trung tâm Diễm Xưa thực hiện riêng cho ông, phát hành tháng Tư năm 2000.

Âm nhạc và cuộc đời của Từ Công Phụng là mất mát, kể cả trong những mối tình, cho đến lúc ông ra đi và để lại hình ảnh quê nhà thương nhớ bao la nắng gió. Nhưng lịch sử sáng tác của Từ Công Phụng không oán thán cho số phận. Như người hát rong truyền đời đi qua sa mạc của hàng ngàn năm trước, ông vẫn miệt mài cất lời tụng ca tình yêu như một di chỉ thầm lặng về cuộc đời Việt – dù ở nơi đâu – cũng cần phải cần phải nhớ giữ lấy di sản cuối cùng, là tình yêu.

Chuyện con bò trong tòa

Ảnh: LS Âu Quang Phục, trong vòng tròn.


Trong phiên tòa xử Tịnh Thất Bồng Lai ngày 20/7, luật sư Âu Quang Phục, người được gọi là bảo vệ cho bị hại Trần Ngọc Thảo tức ông Thích Nhật Từ, đã đặt một vấn đề với những người ở Tịnh Thất Bồng Lai, trước mặt phiên tòa, điều mà ai nấy đều phải ngỡ ngàng:
"Nếu như bây giờ tôi nói Chúa ngu như bò thì các ông thấy sao?"
Luật sư Phục đưa ra câu hỏi này, bởi đơn tố cáo vì cho là bị xúc phạm của ông Trần Ngọc Thảo, nói rằng thành viên của Tịnh Thất Bồng Lai đã phát biểu nói "Thích Nhật Từ ngu như bò". Tức giận do bị so sánh với con bò nên ông Thích Nhật Từ đã làm đơn khởi kiện, nói bị xúc phạm danh dự cá nhân, nhất định hoàn toàn không thể là bò.
Thế nhưng câu hỏi được đặt ra mang tính đối chiếu của luật sư Phục khiến ai nấy ngỡ ngàng, thậm chí phải bật cười vì sự ấu trĩ - và phải nói rõ là ngu xuẩn về trình độ nhận thức - vì Chúa Giêsu dù được đặt ra ở bất kỳ vị trí nào cũng không hề liên quan gì với những người trong Tịnh Thất Bồng Lai.
Nhưng cần nhớ, câu hỏi kém cỏi của luật sư Phục cũng có thể đáng bị đặt vào tình trạng bị khởi tố theo Điều 116 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, điểm C "Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội".
Chuyện cố ý đưa Đức Chúa Giêsu vào trong nội dung này chính là mang tính xúc phạm vô cớ, vì nhân vật Chúa Giêsu không liên quan đến vụ án, và không thể hiện bất kỳ sự suy luận kiến giải nào về việc so sánh ông Thích Nhật Từ ngu như bò, ngoại trừ khi ông Thích Nhật Từ tự coi mình ngang hàng với Chúa, và đặc biệt là hoàn toàn khác con bò.
Cần nói rõ là nội dung quyết định ở đây, đang được cân phân giữa ông Thích Nhật Từ và con bò, là hai thực thể rất rõ ràng.
Vấn đề là phía bị hại cần phải xác định rằng con bò có những điểm xấu như thế nào mà người ta so sánh với mình khiến mình cảm thấy bị xúc phạm, kể cả chuyện "ngu" ở mức nào là được so sánh với con bò.
Tuy vậy, ở một góc nhìn khác, việc so sánh một con người với một con vật đó là chuyện thường tình mang đầy tính văn hóa dân gian vẫn diễn ra trong xã hội, ví dụ người ta vẫn so sánh "Anh A làm việc chăm chỉ như một con ong" hoặc "Anh B suốt cuộc đời cặm cụi như một con kiến", hoặc "Hắn làm việc như con trâu". Sự kiện ông Thích Nhật Từ tức giận đâm đơn kiện, có thể coi là vụ kiện đầu tiên trong lịch sử tòa án Việt Nam về việc bất đồng so sánh với thú vật.
Trở lại câu hỏi rất "bò" của luật sư Âu Quang Phục, chắc chắn sẽ không ai ở phiên tòa xử Tịnh Thất Bồng Lai buồn nghĩ gì cả, vì câu chuyện này không liên quan với vụ án. Hơn nữa, câu hỏi này đầy tính khiêu khích, thể hiện chủ trương thù hằn tôn giáo.
Ông Trần Ngọc Thảo / Thích Nhật Từ trong các bài giảng của mình cũng đã có rất nhiều lần vô cớ công kích Chúa Giêsu và nội dung của tín ngưỡng Công giáo. Thế nhưng phía Công giáo Việt Nam đã đối xử với ông không khác gì người lớn thấu hiểu, nhìn thấy đứa con nít cứ chòi chọc tìm cách gây khó. Vì vậy không loại trừ là luật sư của ông Thảo cũng đã được hướng dẫn cách trình bày quan điểm so sánh tín ngưỡng như vậy ở phiên tòa này - dĩ nhiên trình bày kiểu như vậy thì rất "bò".

Wednesday, July 13, 2022

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà và vài điều chưa kể

Từ trái qua: nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang, nhạc sĩ Lê Hựu Hà, tay trống Trung Vinh, ca sĩ Elvis Phương, guitar Như Khiêm.

Như những nghệ sĩ đã thành danh trong nền văn hóa Việt Nam Cộng Hòa, sau năm 1975, nhạc sĩ Lê Hựu Hà cũng gặp rất nhiều khó khăn trong đời sống sáng tác bởi chính sách và định kiến của chế độ mới, đối với nền văn hóa cũ.

Để tồn tại được trong nghề nghiệp của mình, Nhạc sĩ Lê Hựu Hà đã chuyển đổi cuộc đời của mình, từ một người sáng tác với tinh thần vị nhân sinh trở thành một nhạc công đánh đàn, hòa âm, sống qua ngày với ban nhạc. Cũng có lúc ông lập nhóm tam ca để lưu diễn ở các sân khấu kiếm sống. Ông được chính quyền mới đề nghị sáng tác nhiều bài hát mới, phục vụ chế độ. “Anh cũng có thử viết như rồi tự thấy xấu hổ với chính bản thân mình.  Rồi bỏ đi”, Lê Hựu Hà có lần tâm sự như vậy.

Tuy nhiên vào thời điểm tin tức và liên lạc cách biệt giữa Việt Nam và thế giới, Hình ảnh Nhạc sĩ Lê Hữu Hà xuất hiện trên các sân khấu đàn hát lọt ra ngoài, và lúc đó cũng có những người gọi ông là “đi theo Việt Cộng”. Tuy nhiên, lúc đó cũng không có Facebook hay email như bây giờ để có thể giải bày được tâm sự của mình, và giải oan cho tất cả những công việc kiếm sống và tồn tại trong đất Sài Gòn quen thuộc nhưng cuộc sống lúc đó của những nghệ sĩ có tinh thần độc lập, không phải là dễ.

Trong một lá thư mà ca sĩ Nhã Phương, người bạn đời cuối cùng của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, gửi cho nhà báo Trần Quốc Bảo, người sáng lập Nguyệt San Thế Giới Nghệ Sĩ, có đoạn ôn lại kỷ niệm: “Mỗi khi gặp lại Bạn, lại nhớ anh Lê Hựu Hà. Trước đây, họ tẩy chay, họ coi thường và không dùng đến nhạc của ảnh, cho đến khi bạn về Sài Gòn, bạn xuất hiện đã đem lại niềm vui cho ảnh”.

Nhà báo Trần Quốc Bảo là một trong những người giải nỗi oan cho nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Năm 1993, trong một chuyến về Việt Nam làm ký sự văn nghệ, nhà báo Trần Quốc Bảo đã kể lại câu chuyện buồn phiền và khốn khó của những người bạn cùng thời như Nguyễn Trung Cang, Lê Hựu Hà… Lúc đó, nhạc sĩ Lê Hựu Hà kiếm được một chỗ để chơi nhạc ở vũ trường Intershop tại trung tâm Sài Gòn, còn ban ngày thì cho thuê băng video phim truyện trên đường Võ Văn Tần (Trần Quý Cáp cũ). Cuộc sống chật vật khiến ông mang nhiều mặc cảm, nhưng điều ông buồn hơn, đó là một số nơi của người Việt ở hải ngoại cứ dựa vào tin tức cóp nhặt từ Việt Nam, coi như là ông đã là người của chế độ mới.

“Cũng có đoàn ca nhạc của nhà nước mời anh về làm. Bạn bè anh cũng cũng mấy người nhận lời và tương đối yên ổn. Nhưng anh thì không sao nhận lời được, có lẽ vì mình quen tự do rồi”, nhạc sĩ Lê Hựu Hà từng tâm sự. Tương tự như nhiều trường hợp về “nhạy cảm văn hóa” như bộ Ca khúc Da Vàng của Trịnh Công Sơn, album Phượng Hoàng chưa bao giờ được tái bản hay được cover trọn vẹn.

Nhưng rồi tài năng đã vực ông dậy, đem lại niềm vui và cảm hứng cho ông trong một thời gian. Những bài hát như Đừng Trách Người Ơi, Nắng Vàng Biển Xanh Và Anh, Ngỡ Đâu Tình Đã Quên Mình, Trả Hết Cho Người… lan ra đến hải ngoại, và được khán giả nồng nhiệt đón nhận, cùng với mỗi lúc tin tức về người nhạc sĩ lặng lẽ này ngày càng sáng tỏ hơn.

Một trong những câu chuyện, được coi là đề tài bàn tán sôi động một thời, đó là chuyện của năm 2002, khi bài hát Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào trở thành bài hát top hit của cả trong lẫn ngoài nước. Nhưng có người nói đó là tác phẩm của Nguyễn Trung Cang, có người lại nhất định đó là sáng tác của Lê Hựu Hà. Hầu như đi đâu, người ta cũng nghe thấy bài hát này vang lên, cùng với lời tranh cãi: “Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang, ai là tác giả của bài hát này”?

Lời giải đáp về bài hát này cũng đã được đăng tải trên Nguyệt San Thế Giới Nghệ Sĩ của nhà báo Trần Quốc Bảo, trong loạt bài tìm hiểu về lịch sử sáng tác nhạc trẻ của nhà văn Hồ Văn Xuân Nhi và Trần Quốc Bảo. Tuy nhiên, báo giấy lúc đó không đủ sức lan tỏa để làm rõ. Do vậy, thỉnh thoảng câu hỏi đó vẫn còn vang lên ở các diễn đàn âm nhạc của thế hệ mới.

Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào vào thời gian đó đã trở thành một hiện tượng ở hải ngoại. Nhiều ca sĩ đã hát và đã thành công với nhạc phẩm này như Khánh Hà, Ý Lan, Elvis Phương, Vũ Khanh, Như Mai, Tuấn Ngọc… Trong một ghi nhận cuối năm về những nhạc phẩm được nhiều yêu cầu hát nhất trong năm 1993 của đài Little Saigon Radio, thì Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào đứng hàng thứ tư trong số 20 Top Hits. Nhiều băng nhạc đã bán chạy vì có bài này trong đó. Ở nhiều nơi, các ca sĩ đến trình diễn show thường được yêu cầu hát bài này. Điều đó đã là niềm hãnh diện và an ủi cho người nhạc sĩ còn ở lại quê nhà.

Nói về nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyệt san Thế Giới Nghệ Sĩ viết: “Ở lại Sàigòn từ sau biến cố Tháng Tư 75. Nhạc của Lê Hựu Hà có một thời gian dài không được phép nhắc đến. Anh đã chịu đựng cái đau khổ của một người nhạc sĩ không được quyền sáng tác thêm nữa trong nhiều năm. Sau mười mấy năm, Sài Gòn đã tạm có nhiều đổi khác và đời sống của Anh cũng đã được trở lại. Anh đã sáng tác thêm và thành công hơn, trong số đó có Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào, Vào Hạ… Trước 1975, Lê Hựu Hà đã thành danh với nhiều ca khúc như Tôi Muốn, Yêu Người Yêu Đời, Lời Người Điên, Hãy Ngước Mặt Nhìn Đời, Hãy Nhìn Xuống Chân…”

Nguyên do chính của sự tranh luận, là vào năm 1992, một chương trình nhạc trẻ với chủ đề Những Tình Khúc Phượng Hoàng đã được tổ chức tại San José với sự trình diễn của ban Phượng Hoàng (hải ngoại) do một nhạc sĩ của ban Phượng Hoàng ngày xưa – nhạc sĩ Lê Huy đảm trách.

Trong đêm này, đã có nhiều ca sĩ tên tuổi lần lượt trình bày nhiều bài hát đã tạo nên sự nghiệp của ban Phượng Hoàng, đã làm rực rỡ tên tuổi của những nhạc sĩ Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang… nhưng cũng từ đêm nhạc trẻ này, đã có nhiều sự thắc mắc nêu lên về hai người nhạc sĩ tài danh và cũng là hai người bạn thân thiết với nhau. Bởi vì bên cạnh bài Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào, khán giả còn được nghe ca khúc Tình Còn Lất Phất Mưa Bay, một sáng tác của Nguyễn Trung Cang. Điều này đã gây sự ngạc nhiên, rồi đến thắc mắc, rồi dần dà đã đưa đẩy nhiều tin đồn khác nhau, bởi phần điệp khúc của hai bài hát này có sự trùng hợp nhau, tuy khác lời.

Gặp ở Sài Gòn vào cuối năm 1993, nhóm Thế Giới Nghệ Sĩ với Trần Quốc Bảo và Hồ Văn Xuân Nhi đã nêu câu chuyện này với nhạc sĩ Lê Hựu Hà những thắc mắc liên quan đến hai ca khúc nói trên.

“Điều đầu tiên, chúng tôi ghi nhận là sự ngạc nhiên có thể nhìn thấy được trên khuôn mặt của anh Lê Hựu Hà. Anh cho biết, thật sự anh chưa biết bài Tình Còn Lất Phất Mưa Bay đã phát hành tự lúc nào. Rồi anh bùi ngùi kể lại những kỷ niệm của những năm đầu thập niên 1970. Bắt đầu từ những ngày của ban Phượng Hoàng, khi cuốn băng Nhạc Trẻ Phượng Hoàng do Trung tâm băng nhạc Shotguns của nhạc sĩ Ngọc Chánh lúc đó phát hành.

Tên tuổi và những giòng nhạc Phượng Hoàng rực rỡ trong lòng thanh niên Việt Nam, những bài ca tuổi trẻ mang tính chất tình yêu, quê hương và thân phận đi vào hàng triệu trái tim sinh viên học sinh. Khi nói đến đây, Hồ Văn Xuân Nhi đã mỉm cười nói với anh rằng, trong số những trái tim đó có trái tim chúng tôi, những ngày còn áo trắng cắp sách đến trường”, báo Thế Giới Nghệ Sĩ ghi.

Lý giải về sự giống nhau trong bài Tình Còn Lất Phất Mưa Bay của Nguyễn Trung Cang và bài Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào của mình, nhạc sĩ Lê Hựu Hà nói về những điều có thể đã là nguyên nhân của sự trùng hợp này, do vào khoảng đầu thập niên 1970, Jo Marcel có thực hiện một cuốn phim mang tên Vết Chân Hoang đã có nhã ý mời nhóm Phượng Hoàng làm một bài nhạc cho cuốn phim.

Lê Hựu Hà đã nhận lời đảm trách cho vai trò đó. Anh đã soạn thành một nhạc phẩm, với sự góp ý đôi chút về nhạc của Nguyễn Trung Cang. Lê Hựu Hà nhấn mạnh là chỉ về nhạc mà thôi. Bài nhạc đó đã được giao cho anh Jo Marcel để làm phim Vết Chân Hoang... nhưng sau đó, vấn đề giao kèo về bản quyền nhạc giữa anh và Jo Marcel đã không đạt được kết quả về giá cả. Lê Hựu Hà đã lấy lại bài nhạc nhưng không dùng đến nữa, và gần như nhạc phẩm đó đã đi vào quên lãng với chính anh.

Sau thời gian đó, Lê Hựu Hà đã sáng tác thêm nhiều ca khúc mới như Lời Người Điên, Một Đời Cây Cỏ… và rồi biến cố 30 Tháng Tư xảy đến, nhạc của Lê Hựu Hà và Phượng Hoàng được xem như loại nhạc văn hóa đồi trụy nên không được sử dụng. Vào lúc đó, chính quyền CSVN lại không thích cái tên Phượng Hoàng vì ảnh hưởng của một chiến dịch chiến tranh chính trị chống cộng của VNCH cũng mang tên là Phượng Hoàng.

Mãi cho đến vào khoảng năm 1986, 1987 tại Hải Phòng, nhờ một sự tình cờ quen biết và bởi lòng ngưỡng mộ, một viên chức cao cấp CSVN tại Hải Phòng, đã đứng bảo lãnh cho cá nhân Lê Hựu Hà để anh có thể được phép phổ biến chính thức một vài bài hát mới của mình.

Đến lúc đó thì nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang đã mất và bài Tình Còn Lất Phất Mưa Bay của Nguyễn Trung Cang viết thêm hoàn chỉnh, vẫn chưa phổ biến nên không ai biết đến. Riêng Lê Hựu Hà thì đã khởi sự sáng tác trở lại cùng lúc với bài hát Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào được phép sử dụng.

Trên thực tế, nhạc phẩm Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào đã được viết lại từ nhạc phẩm Vết Chân Hoang, nội dung có phần giống về nhạc nhưng lời thì được sửa chữa lại nhiều để có thể lách kiểm duyệt. Cho đến khi phát hành Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào, Lê Hựu Hà cũng vẫn chưa bao giờ được nghe về ca khúc Tình Còn Lất Phất Mưa Bay. Sự giống nhau đó, có thể là do ảnh hưởng của lần mà Nguyễn Trung Cang đã góp ý nhạc cho bài Vết Chân Hoang ngày xưa, mà những đoạn ký âm rời còn giữ lại, về sau mỗi người hoàn thành theo một kiểu.

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà kể rằng dù lúc đó Nguyễn Trung Cang đã khuất, nhưng với kỷ niệm hai người bạn tri kỷ từng ngồi bàn luận với nhau khi làm cho phim Vết Chân Hoang, nên vào năm 1992, khi được phép thu băng ca khúc Hãy Yêu Như Chưa Yêu Lần Nào tại Sài Gòn, Lê Hựu Hà đã yêu cầu nhà thực hiện hãy in tên anh chung với Nguyễn Trung Cang vì tình bạn, và để nhớ lại những kỷ niệm không thể quên của hai người, những năm tháng xưa đẹp đẽ ấy.



 

 

Saturday, July 9, 2022

Giấc mơ từ một cái chết


Suốt trong nhiều ngày, người ta nhìn thấy trên các trang mạng vô số những lời ai điếu dành cho cựu Thủ tướng Nhật Shinzo Abe. Trong mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Nhật, hình ảnh của ông Shinzo Abe không để lại nhiều ấn tượng cho người dân Việt như của các đời tổng thống Mỹ đến Việt Nam, hay cũng không được ủng hộ lạ kỳ như với Putin…

Về ông Shinzo Abe, dân Việt được nhìn thấy như là một người tận hiến cho quốc gia mình. Sự có mặt của vị Thủ tướng này trên chính trường Nhật để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong loạt các cải cách chính trị lớn mang tên ông, và thậm chí là thương hiệu kích thích kinh tế được công nhận trên toàn cầu của riêng ông, Abenomics.

Nhưng thời đại cầm quyền của ông Shinzo Abe không chỉ có tiếng thơm. Để bảo toàn cho công việc lãnh đạo của mình, ông Shinzo Abe đã thúc đẩy việc hình thành đạo luật Special state secrets: Những người tố cáo và báo giới ở Nhật Bản có thể sớm phải đối mặt với án tù dài hạn vì tiết lộ các báo cáo bí mật nhà nước, có thể bao gồm thông tin nhạy cảm về thảm họa hạt nhân Fukushima và mối quan hệ xấu đi của nước này với Trung Quốc. Nước Nhật đã rơi vào những cuộc tranh cãi khủng khiếp về việc đặt án tù cho các ngôn luận tự do. Theo luật này, các quan chức nhà nước và tư nhân làm rò rỉ 'bí mật nhà nước đặc biệt' sẽ phải đối mặt với án tù lên đến 10 năm, trong khi các nhà báo tìm cách lấy thông tin tuyệt mật có thể chịu án tù lên đến 5 năm.

Ông Shinzo Abe cũng là người cổ xúy và giúp cho nhiều dự án điện than ở Việt Nam, theo yêu cầu của Hà Nội. Và nỗ lực này của ông cũng khiến vào tháng 9/2019, ông bị từ chối, không được đọc bài phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Khí hậu của Liên Hợp Quốc.   

Nhưng ông Shinzo Abe là người đã mang nước Nhật trở lại với nhiều điều khác. Thái độ cứng rắn với Trung Quốc và Hàn Quốc đã tạo cho nước Nhật một vị thế mới. Bất chấp sự phản đối rộng rãi của công chúng, ông đã mở rộng chi tiêu quân sự của Nhật Bản và viết lại hiến pháp, cho phép lực lượng Phòng vệ Quốc gia của Nhật Bản được hoạt động ngoài biên giới nước Nhật để giúp đỡ các đồng minh đang bị tấn công. Ông cũng cho khởi động lại năng lượng hạt nhân, vốn đã không hoạt động kể từ thảm họa Fukushima năm 2011.

Cần thấy, mối quan hệ ngoại giao của ông Shinzo Abe với các nước khác, là giữa chính phủ với chính phủ, ít chạm đến người dân. Mục tiêu rất rõ: Nước Nhật phải là một quốc gia mạnh và thiết lập đủ các đường dây đồng minh trong một thời đại đầy bất an với đất nước mình. Chủ trương quan hệ chính phủ với chính phủ được đặt trên mọi thứ, nên Nhật luôn dẫn đầu trong việc tài trợ và giúp đỡ Việt Nam trong công việc phát triển, thậm chí xem nhẹ những vấn đề về tham nhũng và bất cập của thể chế trong suốt một thời gian dài. Có lẽ vì vậy, nên thủ tướng Shinzo Abe dù được coi như là chính khách luôn vì con người, nhưng chưa bao giờ ông đá động gì về vấn đề nhân quyền hay tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Ngày ông mất, các trang mạng ở Trung Quốc và Hàn Quốc xuất hiện nhiều các ngôn luận reo mừng, vì cuối cùng, cái gai trong mắt họ đã mất. Ngược lại, nhiều nơi tiếc thương, trong đó có người dân Việt Nam. Và như đã nói ở trên, người dân Việt Nam thì không nhận được gì nhiều từ đường lối ngoại giao của thủ tướng Shinzo Abe, nhưng họ ủng hộ vì điều gì?

Rõ là, làm chính trị, sẽ bị phán xét ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng ông Thủ tướng Shinzo Abe được kính trọng bởi vượt lên với tinh thần phục vụ quốc gia chứ không vì đảng của mình, hay vị thế của bản thân mình. Quyền lợi và phát triển của nước Nhật được ông Abe nhắm tới, dành cho tổ quốc và dân tộc chứ không nhằm giữ vững quyền lực chính trị của đảng hay tạo vây cánh, trục lợi cho một âm mưu cầm quyền lâu dài.

Nhiều người Việt trân trọng đưa lại các bức ảnh của ông Abe quỳ gối lắng nghe dân nói, hình ảnh ông cúi chào một cách khiêm cung, và cả cuộc đời giản dị của ông. Đến Việt Nam nhiều lần, nhưng chưa bao giờ ông Abe tổ chức đi xuống đường bắt tay dân chúng như các lãnh tụ khác, nên sự kính trọng lan rộng với ông Abe lúc này, có thể được diễn giải như một giấc mơ thầm kín của người Việt Nam về một lãnh tụ thật sự vì dân, vì đất nước.

So với các quan chức Việt Nam xuất hiện và luôn được hệ thống tuyên truyền và báo chí một chiều rầm rộ ca ngợi, bất chấp hậu quả về sau, ông Shinzo Abe không được lực lượng đó yểm trợ truyền thông. Nhưng ngược lại, rất nhiều người Việt biết và đứng lên tưởng niệm ông, như để bày tỏ về một giấc mơ về một Việt Nam khác, về những quan chức chân chính, và một chế độ sẽ phục vụ, sống và chết cho quê hương mình, chứ không nhân danh vì bất kỳ một lý tưởng nào khác.