Tuesday, December 14, 2021

Mỗi bản án chính trị là điểm nối tan vỡ của chế độ

 


Bản án 9 năm của nhà báo Phạm Đoan Trang không khác gì những tiếng chuông cuối, báo sự rã rời của chế độ về sự mâu thuẫn khôn cùng: sự khao khát chính danh trên trường quốc tế và cách kiểm soát quốc gia theo kiểu bàn tay sắt của thời Xô-viết cũ.

Suốt trong nhiều năm nay, Hà Nội đã làm mọi cách để chứng minh tính chính danh của mình, đặc biệt sau 1995, khi người Mỹ bỏ cấm vận. Chính danh để xoá mờ ý nghĩa khác của sự kiện thống nhất Việt Nam sau năm 1975 – mà Hà Nội gọi là “giải phóng”, còn dư luận thế giới thì gọi là “cưỡng chiếm”.

Để được tính chính danh, ung dung đối diện với thế giới, và kể cả cựu thù là nước Mỹ, nhà nước Việt Nam đã âm thầm nỗ lực rất nhiều thứ, kể cả việc nhận trả luôn 140 triệu USD phần nợ của chế độ VNCH đã mượn chính phủ Hoa Kỳ để xây dựng các hệ thống hạ tầng quốc gia. Xin tham gia vào WTO, Hà Nội đã phải bước qua các tranh cãi về tính lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản, chấp nhận mở lại các không gian tự do tôn giáo, thả bớt tù chính trị…

Hiểu rõ chủ nghĩa cộng sản chỉ còn là tấm bình phong mong manh trước thời đại mới, và không thể cứ là phần nối dài của anh cả Trung Quốc, nhiều năm nay Việt Nam cố gắng ra mặt trong các vai trò của khối Asean, tổ chức hội nghị quốc tế, xuất hiện nhiều trong các chương trình của Liên Hiệp Quốc. Đỉnh điểm mới, là việc ứng cử vào Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc.

Nhưng với những điều luật mơ hồ và ngớ ngẩn như điều 117, 331… và vô số các chi tiết khác để kềm hãm con người và đất nước Việt Nam trong sự kiểm soát bằng công an, quân đội và hệ thống toà án giả hình, chính Hà Nội đang tự huỷ diệt tính chính danh của mình từng ngày, hay nói đúng hơn là qua các phiên toà như sân khấu hiện nay. Việc tổ chức làm khó, ngăn cản người bào chữa với thân chủ, hành hạ người bị giam giữ… và cuối cùng là tổ chức những phiên xử như phường tuồng với những mức án nặng, mỗi ngày càng làm nhơ nhuốc bộ mặt của chế độ trước quốc tế.

Hà Nội hiểu điều đó không? Chắc chắn là có, vì trong các cuộc đánh nhau ở tầng lãnh đạo cấp cao, tháng 3-2007, bức hình linh mục Nguyễn Văn Lý bị mật vụ thường phục bịt miệng trước toà đột ngột xuất hiện trước thế giới – điều mà không có báo nào của nhà nước Việt Nam dám đăng – từ chỗ mà không có một thường dân nào có thể giơ máy lên chụp như vậy, cho thấy chỉ có trò cố ý làm bẽ mặt nhau vào lúc chủ tịch nhà nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đi công du Hoa Kỳ và đến Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Khi báo chí quốc tế nhân dịp đó, cụ thể là đài CNN, đã phỏng vấn ông Triểt về bức hình này. Sau đó, ông Triết đã tự giải thích rằng “cho rằng trong lúc xét xử ông Lý có những lời lẽ thô bạo, chửi bới chính tòa nên đã xảy ra chuyện bịt miệng nhưng hành động này là không tốt, không đúng, là sai sót của một nhân viên bình thường không phải là chủ trương của nhà nước và việc này sẽ bị xử lý”. Trong ngôn luận, có thể thấy ông Triết đang làm mọi cách để bảo vệ cho tính chính danh của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đang lao ra thế giới phương Tây để tìm một chỗ đứng.

Nên nhớ, sau khi cuộc chiến kết thúc năm 1975, Hà Nội không cần thể hiện tính chính danh với phương Tây. Dựa lưng vào khối chủ nghĩa xã hội, những người cộng sản cầm súng có ngôn luận riêng của mình. Trong cuộc họp báo ở Paris cuối tháng 4 năm 1977, Khi được báo chí phỏng vấn chuyện lùa hàng trăm ngàn người của chế độ VNCH ra “học tập ngắn ngày” rồi đưa đi giam giữ không án,  Thủ tướng lúc ấy là ông Phạm Văn Đồng quả quyết những trại cải tạo là “sự thể hiện cực kỳ nghiêm túc quan niệm nhân quyền” của Việt Nam và có mục đích giúp những người “phạm tội ác tày trời” trở về với cuộc sống bình thường. Chỉ tay vào giới phóng viên quốc tế, ông Phạm Văn Đồng trợn mắt, kết luận rằng “các người còn muốn gì nữa?”.

Nhưng sau 1990, mọi thứ đã khác. Tính chính danh là sự phấn đấu miệt mài của chính quyền Việt Nam, bao gồm luôn cả các quan chức cộng sản cũng tìm cách thể hiện sự gần gũi của mình với thế giới bằng cách thỉnh thoảng cho thấy việc nói đôi chút tiếng Anh, chứ không hề giới thiệu mình sành sõi tiếng Nga hoặc tiếng Trung.

Nhưng chỉ ít thời gian sau, cái gọi là “không phải chủ trương của nhà nước” của chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã không còn ở tư thế bào chữa cho bộ mặt một chế độ. Căn tính độc tài cùng sự chiếm lĩnh quyền lực quốc gia của Bộ công an, được hậu thuẫn phe lý thuyết cộng sản bảo thủ, đã biến những điều như trò bịt miệng bằng luật. Mọi thứ đã tiến dần từ chuyện bảo vệ an ninh quốc gia đến bảo vệ danh tính của các nhà lãnh đạo cao, thấp.  

Nhà báo Phạm Đoan Trang đã phạm những tội quốc gia lớn đến mức nào, mà phải bị biệt giam điều tra cả năm trời, không cho gặp luật sư hay người thân? Hay đó là cách luật hoá chuyện tra tấn tinh thần, cô lập và hành hạ để dẫn dắt người bị khởi tố vào chỗ dễ dàng thoả hiệp hay nhận tội? Trò biệt giam rồi bỏ mặc các tình trạng khó khăn thể chất, liệu có là một loại “luật” của nhà nước Việt Nam?

Dù có luật định là phụ nữ có con dưới 36 tháng tuổi sẽ được hoãn thi hành án hoặc không bị giam giữ điều tra, nhưng Việt Nam đã từng có cô Đoàn Thị Hồng, có con nhỏ vẫn bị biệt giam – không thông báo gì cho gia đình – cho đến ngày ra án. Mới đây, cô Huỳnh Thục Vy cũng bị ép thi hành án, dù còn đến nửa năm nữa tại ngoại theo đúng luật của chính nhà nước Việt Nam ban hành.

Nhà tranh đấu Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực, chỉ đòi được trả lời việc thi hành luật đúng như đã ghi trong sách, nhưng cả một hệ thống chọn im lặng vì không đủ khả năng trả lời bằng luật. Trại giam thì tìm cách giữ lại thư gửi cho các cơ quan, như kiểu bịt miệng linh mục Nguyễn Văn Lý.

Chẳng phải những bản án quyết tuyên, và gần đây là Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm, Lê Trọng Hùng, Đỗ Nam Trung… là những điểm tan vỡ rất rõ của bộ mặt chính danh, mà chế độ đã và đang cố gắng nỗ lực sao? Tất cả những lời cam kết với quốc tế, tất cả những khát vọng đưa Việt Nam vào thế giới văn minh của nhiều thế hệ quan chức thầm lặng của Hà Nội đã bị phản bội không ít khi mọi thứ hôm nay hỗn loạn hơn, rừng rú hơn. Và đặc biệt khi tráo trở hơn với thế giới: lớp son phấn chính danh của một chế độ có phải đang trôi tuột?

Nói với điều tra viên, Phạm Đoan Trang nhấn mạnh từng chữ “Bắt giam một người viết đã là một tội ác. Bắt giam một người viết tàn tật là một trọng tội”. Nhân dân như vậy đó, vẫn đứng cao hơn một bậc, vẫn cao quý hơn một chế độ, họ vẫn nói để cảnh báo về những tội ác của nhà cầm quyền, và sẵn sàng đi tù để dành thời gian chứng nghiệm sự rơi rụng của phần trang điểm chính danh và bước ra, sống mãi trong lòng dân tộc.

Dĩ nhiên, với cái cách liên tục và điên cuồng tự huỷ diệt mình như hiện nay, với các phiên toà vô nghĩa, viện kiểm sát, bộ công an toa rập với nhau, ngày tính chính danh của chế độ không còn, chắc cũng không còn xa nữa.

Friday, December 10, 2021

Cách chạy chữa cho cuộc sống mòn



Không phải ai cũng biết là vài trăm năm trước, giới y học phương Tây có một cách cứu người đuối nước rất bất ngờ: đút ống thổi vào hậu môn để bơm sức sống vào trực tràng giúp nạn nhân tỉnh lại. Những bác sĩ thời đó, hoặc thổi hơi của thuốc lá vào ruột, hoặc ra sức thổi tận tình.  

 

Chuyện khó tin nhưng có thật này từng được đăng tải trên tạp chí chuyên Y khoa Boston Medical and Surgical Journal (Giờ thì được biết đến với tên là tạp chí The New England Journal of Medicine) trong số tháng 1 năm 1897. Tác giả bài viết là Julius Bonello ở Peoria, Illinois, nói phương pháp này giúp chữa nhiều thứ, nhưng với những nạn nhân chết đuối là thú vị nhất. Pháp là nước đầu tiên áp dụng kỹ thuật này, theo sau là giới y học ở Anh Quốc.

 

Dĩ nhiên, dó là chuyện của thế kỷ 19. Con người văn minh hiện nay khi đọc lại những y văn cũ hầu như đều bật cười và nói rằng chuyện khó tin như vậy nhưng không hiểu sao có lúc giới bác sĩ lại tin tưởng tuyệt đối đến vậy. Nghĩ lại, thì cũng thật khó nói, vào những lúc tận cùng với hy vọng mông muội cứu sống một người sắp chết, người ta đã cố làm tất cả, chỉ để mong níu lại sự sinh tồn mà thôi.



Nhưng đôi khi, chuyện như vậy vẫn có thể xảy ra vào thời đại hôm nay.

 

Chuyện mới đây ở Thanh Hoá là một ví dụ. Cô gái nhỏ dại dột vào tiệm thời trang và lấy cắp chiếc áo, giá 160.000 VNĐ, dẫn đến chuyện bị ông bà chủ làm nhục. Cách làm quá đáng của người chủ khiến dân cư mạng bất bình dẫn đến việc lấy cắp của cô gái ấy trở thành chuyện sai nhỏ hơn câu chuyện sai lớn đang lấp đầy mắt mọi người. Thế rồi, ăn theo sự kiện, Tỉnh đoàn Thanh Hoá, Thành đoàn Sầm Sơn và nhà trường lại “đến bệnh viện trao quà, động viên” cho cô gái này, vốn đang bị quá căng thẳng trước sự cố do mình khởi đầu gây ra.

 

Trong những bức hình được phô ra đầy tự hào về chuyện “động viên” này, người ta thấy rõ nhất là màu áo xanh của Đoàn thanh niên cộng sản. Bức hình như lời nhắn nhủ “chúng tôi luôn xông xáo và có mặt hữu ích ở tuyến đầu”. Loại trừ các ý nghĩa ngớ ngẩn của sự kiện, cách làm cũng không khác gì phương thức “bơm hơi hậu môn” của thế kỷ 19, nhưng không phải để cứu ai khác, mà để cứu chính mình với bộ dạng đã chết lâm sàng từ nhiều năm nay.

 

Đây không phải là lần đầu tiên, hình ảnh của đoàn thanh niên được “bơm” như vậy. Còn nhớ vào năm 2012, đoàn thanh niên cộng sản cũng có phong trào kỳ lạ là đem đưa đoàn viên ra làm dãi phân cách sống trong dịp thi Trung học phổ thông quốc gia. Bất kể nắng mưa, giới đoàn viên nam nữ thay nhau nắm tay đứng làm làn đường, mà theo giải thích của một thanh niên ở trường đại học Bách Khoa là “nếu không hành động như vậy, tình trạng tắc đường sẽ xảy ra nghiêm trọng. Thí sinh bước khỏi phòng thi lộn xộn, rất dễ bị tai nạn. Người nhà và sĩ tử cũng khó tìm thấy nhau trong biển người”.

 

Có thể những đoàn viên ấy được “bơm” suy nghĩ về cách sống như vậy là phục vụ và dâng hiến, nhưng giới phụ huynh cũng như tất cả những người có tinh thần bình thường trên đất nước ai cũng đều thấy khó chịu bởi trò mị dân, vô bổ và chủ đích “bơm hơi” để cứu hình ảnh của đoàn thanh niên trong giai đoạn nhạt nhoà của tổ chức này.





Gần đây, cũng đã có những vụ bê bối lùm xùm kháo nhau trên mạng về chuyện làm từ thiện cho người khó khăn, bị phong toả lúc đại dich, công sức thì của bá tánh, nhưng những chiếc áo xanh thì chen chân chụp ảnh, đứng nhận là phần mình.

Với sự ra đời, được tính là vào năm 1931 cho đến nay, đoàn thanh niên cộng sản đã có 90 tuổi đời – tuổi đủ lớn và để nhìn thẳng mặt nhau và đặt câu hỏi là đoàn thanh niên tồn tại để làm gì và cho ai? Trong mọi điều lệ và nhiệm vụ của đoàn thanh niên cộng sản, lúc nào câu nói “phấn đấu và phục vụ vì lý tưởng của Đảng và Bác Hồ”, vậy thì rõ là tổ chức này là thành phần ngoại vi của đảng cầm quyền, vậy ngân sách nuôi dưỡng và hoạt động của tổ chức này đang tự tiện được trích từ tiền thuế của nhân dân Việt Nam, có thể gọi là bất hợp pháp hay không?

 

Sau năm 1975, người dân miền Nam được biết đến tổ chức này, và thanh thiếu niên thì bị cưỡng ép tham gia bởi có những ràng buộc hành chính vô lối, chẳng hạn như phải có đoàn viên thì mới được thi hay tốt nghiệp đại học. Những năm ở học đường sau năm 2000, dù không còn bắt buộc, nhưng hầu như các cuộc vận động vào đoàn đều mang tính thúc ép, vì xã hội không có tổ chức chính trị nào khác để lựa chọn. Bất kỳ ai ở miền Nam, cũng đều có thể có được những kinh nghiệm khó chịu về điều này.

 

Câu chuyện Tỉnh đoàn Thanh Hoá hớn hở chớp thời cơ “động viên” cô bé 16 tuổi vừa phạm sai lầm trong đời mình – kiểu đánh đu theo dư luận – diễn tả cho thấy sự tuyệt vọng của tổ chức này. Đã co cụm trong đời sống ngày càng vô nghĩa của mình, nên họ không còn đủ suy nghĩ về giới hạn của đạo đức và lẽ phải. Ngoài các chương trình được tổ chức rùm beng và mị dân như hưởng ứng giờ trái đất, tổ chức nhặt rác, mít tinh hưởng ứng chính sách… thì việc xông vào xã hội qua các sự kiện bề nổi, cũng không khác gì cách chữa “bơm hơi”, duy trì cho sự tồn tại của mình.

 

Với con số khoảng 6,4 triệu đoàn viên trong cả nước, đây quả là một tổ chức không nhỏ. Nghĩ lại, việc “đút ống thổi bơm hơi” để cứu vãn cho hình ảnh tập hợp có ý nghĩa của ngần ấy người, đặc biệt là với dân tộc và quê hương Việt Nam, ắt các nhà lãnh đạo tổ chức này cũng vô cùng mất sức.

 

 

 

Tham khảo thêm cho vui:

https://zingnews.vn/toi-khong-ung-ho-tinh-nguyen-vien-xep-hang-duoi-nang-40-do-post555253.html

https://nhanvanviet.com/chong-dbhb/khong-the-xoa-bo-to-chuc-doan-thanh-nien/  

 

 

 

 




Monday, December 6, 2021

Pháp chủ mới của Giáo hội Phật giáo Nhà nước là ai?


Hòa thượng Thích Trí Quảng vừa được báo chí trong nước đồng loạt đưa tin về việc được Nhà nước phê duyệt cho ngôi vị Pháp Chủ của Giáo hội Phật giáo. Chức danh Pháp chủ dùng để gọi người lãnh đạo cao nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Nhà nước dựng lên sau 1975). Pháp chủ là người đứng đầu Hội đồng Chứng minh, có quyền thay mặt Hội đồng Chứng minh ban hành các giáo chỉ, các văn bản quan trọng nhất, đại diện cho Giáo hội trong các hoạt động đối ngoại.

Có không ít ngạc nhiên, rằng hòa thượng Thích Trí Quảng có nguồn gốc từ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), một tổ chức độc lập và xuyên suốt toàn miền Nam từ đầu những năm 1960, nhưng vốn đã bị bóp chết từ Tháng Mười Một 1981, khi ông cựu Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đẩy mạnh chiến dịch khai sinh giáo hội mới. Ngoài việc dựng lên một giáo hội toàn trị, trực thuộc dưới quyền chỉ đạo của Ban Tôn giáo Chính phủ, việc hủy diệt các chức sắc đương thời của GHPGVNTN… cũng còn đầy trong các trang sử tín ngưỡng đầy khốc liệt.

Cũng có lời bàn, rằng dường như có sự thay đổi bí ẩn nào đó, mới có chuyện một nhân vật có tính cốt cán của GHPGVNTN, người được cử đi học Tiến sĩ Phật học tại Đại học Rissho, Tokyo, Nhật Bản, rồi sau năm 1971 khi tốt nghiệp xong, được cất nhắc vào vị trí là Tổng vụ trưởng Tổng vụ Phiên dịch và Trước tác. Nhưng mọi sự, có lẽ không phải đơn giản như vậy.

Sự cố hủy diệt GHPGVNTN từ sau 1975, bỏ tù nhiều vị đại đức, chiếm giữ nhiều chùa, cơ sở Phật giáo… thậm chí có liên quan những cái chết oan khuất của nhiều vị hòa thượng từ miền Trung đến miền Nam, đã dẫn đến kết quả của nhà nước, là hình thành giáo hội mới, tập trung chủ yếu ba thành phần:

1/ Nhẫn nhục chịu đựng để giữ lại những gì mà GHPGVNTN đã dày công dựng lên,

2/ Thành phần quá lo sợ trước những gì đang diễn ra và chọn thỏa hiệp để yên vẹn đường tu của mình, và cuối cùng,

3/ Đó là thành phần nhận ra đây là giai đoạn cơ hội thích hợp để có thể nắm lấy cả danh và lợi của thế quyền và thần quyền.

Khó có thể nói là hòa thượng Thích Trí Quảng là thành phần nào ở giai đoạn đầu, nhưng chỉ biết rồi sau đó, khi tham gia vào Giáo hội Nhà nước, ngài nhanh chóng trở thành cánh tay đắc lực của Ban Tôn giáo Chính phủ, không chỉ trong hoạt động nội bộ giáo hội, mà còn sớm nhận được các phần thưởng như Huân chương Độc lập hạng Nhất (2011) và Huân chương Lao động hạng Nhất (2017). Bên cạnh đó, còn vô số chức vụ của Giáo hội Nhà nước trao cho, mà hôm nay đỉnh cao là chức Pháp Chủ.

Do tính chính danh của Giáo hội Nhà nước không đủ thuyết phục, nên năm 1999, Nhà nước từng ngỏ lời với thiền sư Nhất Hạnh một chuyến về chính thức tại Việt Nam nhưng phải lấy danh nghĩa do Giáo hội Nhà nước mời, nhưng thiền sư Nhất Hạnh đã từ chối. Wikileak tiết lộ công điện từ Đại sứ quán Mỹ gửi về Bộ Ngoại giao Mỹ, đề ngày 31 Tháng Ba 2005, rằng đến năm 2005 thì thiền sư Nhất Hạnh thuyết phục ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, dành được quyền tự do về Việt Nam và phát hành sách của mình. Điều này làm các chức sắc của Giáo hội Nhà nước không hài lòng, đặc biệt ắt là những người như hòa thượng Thích Trí Quảng – mà câu chuyện sẽ kể sau đây.

Wikileak cũng tiết lộ công điện của Tổng lãnh sự ở Sài Gòn, đề ngày 21 Tháng Ba 2007 rằng đã có những trục trặc trong việc thiền sư Nhất Hạnh thực hiện ba buổi cầu siêu, dự trù cho mọi nạn nhân đã “thiệt mạng vô duyên cớ” trong chiến tranh hai miền Nam Bắc Việt Nam. Dự tính, lễ cầu siêu sẽ nhắc đến chiến binh Mỹ cũng như những người Việt Nam bị chết vì “những tai họa khác,” kể cả trại tù cải tạo và người vượt biên.

Tuy nhiên, phía chính quyền tỏ ra cứng rắn. Đã có lời nhắc là cấm không được nhắc đến lính Mỹ, cấm nhắc đến tù cải tạo, cấm nhắc đến thuyền nhân. Sau đó, được biết là hòa thượng Thích Trí Quảng đã được cử đến gặp thiền sư Nhất Hạnh ở chùa Vĩnh Nghiêm, ngay trước lễ cầu siêu vào ngày 16 Tháng Ba 2007 để nhắc lại yêu cầu nghiêm khắc này, đặc biệt là không được cầu siêu cho lính Mỹ và lính VNCH tử trận.

Để buổi lễ được diễn ra, thiền sư Nhất Hạnh nói là sẽ tuân thủ những đòi hỏi của chính quyền và không nhắc đến “những tai họa khác,” đến thuyền nhân, hay đến những binh sĩ không phải Việt Nam. Tuy nhiên, trong buổi lễ, thiền sư Nhất Hạnh đã cất tiếng cầu siêu cho tất cả “nạn nhân hai miền Nam Bắc”, và nói là toàn thể sáu triệu người thiệt mạng trong chiến tranh đều đã chết “vô duyên cớ”. Hơn nữa, điều làm cho nhiều quan chức trong chính quyền lúc đó rất khó chịu, là thiền sư Nhất Hạnh so sánh với hai miền Ðông Ðức và Tây Ðức thống nhất mà không đổ máu, và giới lãnh đạo Việt Nam lẽ ra phải làm được như vậy. Ông kêu gọi mọi người, bất kể tôn giáo, hãy cầu nguyện cho sự thay đổi.

Vào buổi lễ cầu siêu, sau khi bài thuyết pháp đã xong và phần tụng kinh bắt đầu, một nhóm đại diện Giáo hội Nhà nước xuất hiện. Dẫn đầu là hòa thượng Thích Trí Quảng, Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Nhà nước và là ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc. Ngay sau khi lên phát biểu sau phần tụng kinh, hòa thượng Thích Trí Quảng đã lập tức nói ngược lại những điều thiền sư Nhất Hạnh đã nói, và thay vào đó, đã tuyên bố buổi lễ cầu siêu là chỉ dành cho những liệt sĩ hy sinh “trong cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ”.

Trong những năm tháng khốn khó của hòa thượng Thích Huyền Quang, Đệ tứ Tăng thống GHPGVNTN cùng hòa thượng Thích Quảng Độ (về sau là Đệ ngũ Tăng thống), cũng như nhiều tăng chúng mắc nạn vì chính sách phân biệt đối xử tín ngưỡng, hòa thượng Thích Trí Quảng dường như chưa bao giờ lên tiếng để đặt vấn đề hay ngỏ ý xin giảm nhẹ. Thậm chí ngài cũng chưa bao giờ dùng danh nghĩa của một người từng đứng trong hệ thống của GHPGVNTN để nói một lời công bằng, trong việc tổ chức này bị ruồng bố và hủy diệt, các hoạt động từ thiện hay sinh hoạt hàng ngày bị ngăn chặn…

Bản thân hòa thượng Thích Trí Quảng nắm giữ vai trò Viện chủ của năm chùa và tổ đình. Ngài còn là Trưởng ban quản trị của Việt Nam Quốc Tự, chùa Phổ Quang và Thanh Tâm. Ngoài ra, ngài còn đảm nhiệm thêm vai trò Tổng biên tập Báo Giác Ngộ; Trưởng ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM; Hiệu trưởng Lớp Cao cấp Giảng sư Trung ương… Và cuối cùng, là trụ trì chính ở Việt Nam Quốc Tự.

Thursday, December 2, 2021

Cô gái vót chông, hay là hội chứng “khổ dâm” Việt-Mỹ

Câu chuyện của nữ thí sinh hoa hậu Miss World đi thi trên vùng đất thuộc lãnh thổ chưa hợp nhất của Mỹ (Unincorporated territories), nhưng cất lên bài hát chống Mỹ, là minh họa rõ nét nhất của mối quan hệ vật vã Việt Mỹ lúc này. Mối quan hệ được nhìn thấy rõ nét hai chiều “khổ dâm” của một nhà cầm quyền: Thích nhích lại gần Mỹ nhưng luôn hô hào chống Mỹ và tận dụng mọi cơ hội để phủ nhận nước Mỹ.

Việc quyết định sắp xếp bài hát có nội dung chống Mỹ cho một thí sinh dự thi quốc tế, chắc chắn là có suy xét nhiều thứ từ những người ở Hà Nội, “những người” mà trong cuốn hồi ký Nothing Is Impossible của cựu Đại sứ Ted Osius vẫn ám chỉ, là một phía của phe bảo thủ vẫn còn muốn ôm ấp những kỷ niệm chiến tranh, không thể rời bỏ. Bởi đơn giản, nếu lấy đi phần đó trong cuộc đời của họ, sự tồn tại của họ trong thể chế hôm nay là vô nghĩa.

Phía bảo thủ trong nội bộ cầm quyền Việt Nam – câu hỏi là bao nhiêu? Và họ quan trọng như thế nào, đến mức những hình thức chống Mỹ quái gở vẫn phải được giữ gìn qua các hoạt động ngày thường? Một dư luận viên rời bỏ bị trí, kể rằng anh ta được gọi vào nhóm xây dựng các kênh trá hình kể chuyện lịch sử, hay những câu chuyện chiến tranh Việt Nam trên YouTube, TikTok…, với những phim tư liệu mang nội dung chống Mỹ, chê bai Việt Nam Cộng Hòa, ngợi ca quân đội Bắc Việt… Tất cả được cung cấp sẵn, chỉ cần đọc, post hình ảnh lên các kênh và kéo link cho các nhóm dư luận viên phong trào tràn vào like và ca ngợi. Ngôn ngữ trong đó thì thoải mái chửi bới, áp đảo tinh thần của những ai vô tình lạc vào nói lại, đính chính những điều bị bóp méo.

“Em thấy mình không theo nổi trò đó, vì mọi thứ đều bị xuyên tạc”, bạn dư luận viên đó nói về quyết định rời bỏ của mình. Những gì được kể từ bạn ấy, cho thấy từ việc sửa Wikipedia, cho đến các kênh viết lại lịch sử và phong trào tham gia bình luận, đều có những chỉ đạo rất cụ thể.

Dĩ nhiên, hoạt động hai chiều đó của Hà Nội vẫn nằm trong tầm ngắm và ghi chép của các nhà ngoại giao trên đất Việt Nam, như hiện trạng của một con bệnh lâu năm. Trên trang Facebook chính thức của Tòa Đại sứ Mỹ hay Liên Minh Châu Âu tại Việt Nam, vẫn thường có hàng trăm bình luận hằn học, mà chủ yếu là bày tỏ sự tức giận, khinh miệt, mỗi khi các cơ quan ngoại giao này lên tiếng về vấn đề nhân quyền hay thời sự của Việt Nam. Dĩ nhiên, không có bình luận nào thật sự có ý nghĩa về mặt phản biện, mục đích chính chỉ là tạo không khí chống phương Tây.

Hiện trạng này trở nên ấu trĩ và mỉa mai, khi các hoạt động ngoại giao nối kết và trợ giúp từ Mỹ (và các nước) diễn ra. Nhất là khi giọng điệu của các quan chức cấp cao của Việt Nam cũng ra vẻ nồng ấm, cần thiết với các mối quan hệ này.

Vào lúc mà cô thí sinh hoa hậu Miss World trình diễn bài hát “thằng giặc Mỹ cọp beo” cũng là lúc mà nước Mỹ đã bảy lần yểm trợ cung cấp vaccine cho Việt Nam trong đại dịch, với hơn 15 triệu liều. Lời giới thiệu về bài “Cô gái vót chông” đã làm bẽ bàng và gần như tê liệt mọi giới dư luận viên: Không ai lên tiếng bênh vực được cho hành động của Hà Nội trong việc cài đặt bài hát chống Mỹ ngớ ngẩn như vậy.

Sự kiện này nhắc cho nhiều người nhớ về hành động của ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành ủy Hà Nội, vào năm 2014, khi ông này trơ trẽn tặng cho Thượng nghị sĩ John McCain bức ảnh máy bay bị bắn rơi vào năm 1967. Dĩ nhiên, cách mà ông Nghị chọn cho in và ép nhựa, rồi mang tận Mỹ để tặng, là một sự tính toán rất rõ không chỉ riêng ông. Nền chính trị Việt Nam, với cách thức thảo luận tập thể và ý kiến thể hiện quan điểm chung, cho thấy rõ là phe bảo thủ đang thắng thế vào lúc đó. Họ đã hành động mà không ngại ngùng gì đến thể diện của một đảng cầm quyền.

Hầu hết nhà bình luận thời sự đều nhận thấy cán cân đối ngoại của Việt Nam trong việc nhích về phía nước Mỹ và phương Tây đang ngày càng lộ rõ, và Hà Nội cũng không giấu giếm gì trong các kế hoạch tái thiết sau đại dịch: Chưa bao giờ các chuyến đi công du Trung Quốc lại ít như lúc này, so với việc từ Thủ tướng, Chủ tịch nước đến Chủ tịch Quốc hội Việt Nam đều lăn xả về phía các nước tư bản và các quốc gia có “thế lực thù địch”.

Vậy đó, nhưng chạy đến và ngợi ca về sự phát triển ngoại giao của đôi bên vẫn không ngăn được các trò chửi bới và chống Mỹ trong nước. Sách giáo khoa vẫn dạy về “giặc Mỹ cọp beo”, các lệnh diễn tập chống lật đổ của quân đội vẫn nói về “kẻ thù tư bản”. Một lúc nào đó không may, khi các nhà lãnh đạo Việt Nam đang đi công cán ngoại quốc và được đặt câu hỏi về tình trạng hai mặt này, không hiểu họ sẽ trả lời thế nào. Chắc chắn mọi sự diễn đạt, dù như thế nào cũng sẽ không thể thoát khỏi hình ảnh khổ dâm trong mối quan hệ Việt-Mỹ: Muốn nhích tới gần, nhưng miệng thì vẫn kêu gào phản đối.

Saturday, November 20, 2021

Trò chuyện với “Thánh rắc hành”, trước giờ nhận giấy triệu tập lần 3

Người chủ quán bún bò có tên Ba Cô Gái ở Đà Nẵng không bao giờ tin nổi mình có một đoạn đời kỳ lạ như hôm nay. Anh nói giờ thì không chỉ phải phục vụ số lượng khách đông bất ngờ so với hàng ngày, mà còn phải làm việc với công an về những giấy triệu tập mà anh hoàn toàn không biết mình có vai trò gì trong cuộc điều tra như thông báo.

Dân ở Đà Nẵng bàn tán, và nhắn cho nhau số 21/1 đường Ông Ích Khiêm, nơi có quán Bún Bò Huế lừng danh một cách bất đắc dĩ này để xem mặt ông chủ Bùi Tuấn Lâm, hay còn gọi là Peter Lâm Bùi – cách gọi của bạn bè anh. Nói với báo Saigon Nhỏ, anh Lâm nói sau một vài ngày khi câu chuyện của anh lan rộng trên mạng, khách đến ăn đột nhiên tăng bất ngờ.

“Ngày thường thì đến trưa mới hết hàng, rồi tôi cùng gia đình dọn dẹp, nhưng vài ngày sau sự kiện ‘rắc hành’ của tôi, khách đến rất đông. Mọi người rất thân thiện và chào tôi như quen từ trước, có những người lại vỗ vai tôi, nói cố lên. Có người nói sẽ luôn ủng hộ tôi với tình trạng hiện nay. Bối rối hơn, lại còn có những người đến xin chụp ảnh chung và nói rất vui được biết mình, làm mình bối rối lắm”, anh Lâm Bùi cười và nói.

Anh Lâm, được những người hài hước trên mạng Facebook, gọi là “Thánh rắc hành”, do anh có lối phục vụ thực khách vui nhộn, qua việc nhại lại động tác của tay đầu bếp nổi tiếng người Thổ Nhĩ Kỳ Nusret Gökçe khi rắc muối lên món thịt bò đắt tiền mà cả thế giới đều biết. Anh Lâm rắc hành, như một động tác cuối cùng để mang tô bún đến thực khách và chúc ăn ngon. Anh Lâm không chỉ làm một lần, mà nhiều lần như vậy trong ngày, bao gồm cả khi anh gửi tặng những phần ăn miễn phí cho người nghèo đến tìm anh. Quán Bún Bò Huế Ba Cô Gái được biết mỗi ngày đều tặng cho những người nghèo, người già trong vùng quá bước, trong chương trình của gia đình anh tạo ra, gọi là “Chủ nhật yêu thương”.

“Có những ngày khó khăn, tôi gửi đến 50-70 phần nhưng vẫn không xuể”, anh Lâm kể. Quán của “Thánh rắc hành” bán buôn như vậy thì không thể làm giàu. Nhưng gia đình anh Lâm vui với điều đó. Vợ anh, chị Thanh Lâm và ba đứa con gái nhỏ đều tự hào và vui với những gì mà gia đình mình sống và cho đi như vậy. Họ giàu có theo một cách khác.

Trước năm 2021, anh Lâm mở quán gà rán để độ nhật, thế nhưng dịch bệnh bùng phát, sau một thời gian dài quay lại, anh Lâm khai trương món Bún Bò Huế, và câu chuyện của anh lại nổi trôi theo chuyện “Thánh rắc muối” Nusret Gökçe, biệt danh là Salt Bae. Ngày 5 Tháng Mười Một, một đoạn video được tung ra, mà theo đó, giới thạo tin cho biết đó là các vị lãnh đạo cao cấp của công an Việt Nam đến thưởng thức món bò đắt đỏ thuộc hàng nhất thế giới. Tờ Daily Mail giật tít “Vietnamese communist official is caught being ‘hand-fed £1,450 gold-covered steak at Salt Bae’s London restaurant” – tạm dịch “Quan chức cộng sản Việt Nam bị bắt quả tang được đút thịt bò dát vàng giá 1450 bảng ở quán của Salt Bae tại London”.

Gần như khắp thế giới đều đưa tin. Dư luận trên mạng của Việt Nam rộn ràng những phân tích từ một phía, nói rằng đó là video cắt ghép của thế lực thù địch với nhà nước Việt Nam và với bản thân Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an, nhân vật chính trong video. Thế nhưng, tiếc là khoảng 1000 tờ báo, truyền hình của nhà nước lại hoàn toàn im lặng, không nói gì, khiến dư luận lại ngày càng nhiều hơn, với đủ các kiểu bình luận.

Năm ngày sau khi anh Lâm giới thiệu video “rắc hành” của mình, với mục đích vui nhộn và giúp tăng thêm khách đến ăn, anh nhận được giấy triệu tập lên làm việc với công an.

Trên trang Facebook mình, anh Lâm cùng vợ có ghi lại cảnh trao đổi với hai người công an, mà về sau sự căng thẳng ngày càng tăng. Anh Lâm chỉ yêu cầu là giấy triệu tập cần có đủ nội dung rõ ràng, để anh biết anh là kẻ tình nghi phạm tội, hay là đến với tư cách nhân chứng giúp đỡ thêm cho một cuộc điều tra. Thế nhưng công an từ chối, nói là họ không thể tiết lộ bí mật của công việc. “Cơ quan công an cần phải nói rõ là tôi đang bị triệu tập cụ thể về chuyện gì, việc triệu tập một công dân mà chỉ nói chung chung là “phục vụ công tác điều tra” thì không được. Tôi không chống đối gì hết nhưng một cơ quan pháp luật cần thể hiện việc thượng tôn pháp luật”, anh Lâm nói, “tôi cũng tham khảo với nhiều luật sư bạn, tất cả mọi người đều nói rằng công an làm chưa đúng. Luật sư dặn việc đòi hỏi là đúng quyền của mình trong luật pháp quy định, còn phần họ có bất chấp hay không thì mình không thể đoán”.

Trên thực tế, anh Lâm biết bản video “rắc hành” của anh bùng lên, ngẫu nhiên trong lúc này, chỉ khiến công an khó chịu thêm về cái cách từ chối lệnh triệu tập của anh, chứ thật ra, chuyện còn nhiều nguyên nhân được đồn đoán khác.

Rất nhiều người biết đến cái tên Peter Lâm Bùi vào giai đoạn đầu những năm 2010-2015 trong các phong trào phản đối Trung Quốc xâm lược và giết hại ngư dân. Đặc biệt năm 2014, khi Bắc Kinh đặt giàn khoan lớn HD981 trên biển Đông, lấn vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Peter Lâm Bùi là một cái tên xuất hiện trên nhiều tin tức về người yêu nước Việt Nam xuống đường, kêu gọi bảo vệ chủ quyền đất nước. Sau đó, anh Lâm lập gia đình và chuyển sang hoạt động từ thiện.

Tin cho hay, một trong những nhánh điều tra từ công an Hà Nội về chị Nguyễn Thúy Hạnh là muốn tìm hiểu về Peter Lâm Bùi, xem có phải anh từng nhận chuyển tiền giúp cho ai, từ quỹ 50K của chị Nguyễn Thúy Hạnh. Chị Hạnh, người sáng lập “Quỹ 50K”, và là người vận động phúng điếu cho cụ Lê Đình Kình, người bị sát hại ở làng Đồng Tâm về một vụ tranh chấp đất đai. Chị Hạnh vẫn bị giam giữ để điều tra ở Hà Nội từ đầu Tháng Tư 2021, mà theo ngôn luận nhà nước từng phát đi trên truyền hình là chị Nguyễn Thúy Hạnh “tài trợ cho khủng bố”.

“Với tôi, chị Nguyễn Thúy Hạnh là một người đáng kính trọng. Những việc làm của chị ấy không có gì sai cả. Và giả như lúc này tôi nhận được nguồn tiền từ quỹ của chị Hạnh để nhờ gửi, giúp đỡ cho những ai đang khó khăn thì tôi cũng sẽ không từ chối. Việc làm đó không có gì gọi là sai với pháp luật cả” – anh Peter Lâm Bùi nói.

“Theo luật pháp Việt Nam, khi nhận được giấy triệu tập lần thứ ba thì cơ quan an ninh đã có quyền cưỡng chế, tức bắt mình mang đi. Tôi cũng không rõ trong giấy triệu tập lần thứ ba này, công an có ghi rõ là muốn làm việc với tôi về việc gì hay không. Tuy nhiên một khi họ đã quyết cưỡng chế, bắt đi thì tôi không thể đòi hỏi gì được lúc đó”. Anh Lâm nói.

“Tôi thấy mình không có gì để lo ngại, và chờ đón sự việc sẽ đến, dẫu ra sao. Chỉ xin tất cả anh chị em đã biết tôi, xin hãy dành chút thời gian chia sẻ với vợ con tôi, nếu tôi không còn được tự do”, anh Lâm ngừng một chút, rồi nói nhanh như vậy.

Lúc này, số người quan tâm đến trường hợp của anh Peter Lâm Bùi có vẻ nhiều hơn mức bình thường. Quán bún của anh chỉ tạm nghỉ hai ngày 19 và 20 Tháng Mười Một nhưng dân mạng lập tức nhắn với nhau rằng không hiểu vì sao quán của anh lại đóng cửa. “Tôi cảm thấy mệt mỏi nên tạm nghỉ hai ngày, rồi sẽ bán lại, không có gì đâu”, anh Lâm giải thích khi có thực khách nhắn hỏi với vẻ lo lắng.

Ở Việt Nam, lâu nay, những người từng xuống đường chống Trung Quốc hoặc tham gia các hoạt động xã hội dân sự luôn kể về các kinh nghiệm, cho biết rằng cuộc đời của họ thường không bình yên sau khi đã hành động với lẽ phải và sự thật.  Công an địa phương thường phục lẫn không thường phục thường xuyên quấy rầy những người như vậy. Có những người đã chọn cuộc sống im lặng, để chăm sóc gia đình nhưng họ vẫn không nhận được sự đối đãi đúng mức như đối với một công dân bình thường. Việc chứng nhận giấy tờ, xin cho con đi học, thuê nhà… luôn luôn gặp trở ngại với những ánh mắt xem họ như là một “thế lực thù địch”.

Câu chuyện của anh Peter Lâm Bùi có vẻ tiềm ẩn những rắc rối, nhiều hơn hình ảnh vui vẻ “Thánh rắc hành” mà mọi người đang nghĩ. Đôi khi chọn sống đúng với luật pháp và lương tâm, cũng chưa hẳn là cách tốt nhất để tồn tại ở Việt Nam, như anh Lâm cùng gia đình tin và hy vọng.

Thursday, November 11, 2021

Chuyện của những người giàu "mới", Việt Nam hôm nay


Hồi Tháng Mười Một 2021, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, Tổng giám đốc VietJet Air, bỗng nổi như cồn, về chuyện móc túi tặng cho một phân viện của Đại học Oxford 155 triệu bảng Anh. Chuyện của bà đã tạo ra nhiều hiệu ứng rất thú vị trong xã hội Việt Nam.

Dễ thấy nhất là nhiều cây viết phục vụ cho các chính sách nhà nước, hay mơn trớn giới nhà giàu xã hội chủ nghĩa, lập tức lên giọng bảo vệ cho sự kiện này. Một trong các ngôn luận nổi cộm là kiểu phê phán thói xấu người Việt, rằng không hiểu sao đám đông vẫn hay “ghét” người giàu vô cớ, ganh tị hoặc không công bằng với người làm ra của cải hôm nay. Dĩ nhiên, đọc là hiểu những ngôn từ đó nhằm bênh vực, che chắn cho một lớp đại gia hôm nay – trong đó có không ít người bỗng vụt lên giàu có như huyền thoại, không có lời giải. Loại huyền thoại dễ bắt gặp của một tầng lớp “thắng cuộc” sau 1975. Nói nôm na là không khác mấy chuyện Alibaba một ngày chợt nhìn thấy cửa hang châu báu rồi nghiễm nhiên trở thành ông chủ, bà chủ.

Thật ra, không ai tự dưng dòm ngó gì bà Thảo hay giới nhà giàu cả. Chuyện bà bỏ một số tiền khổng lồ để nâng đỡ cho việc xây dựng chất xám của nước Anh, và cả cho giá trị cá nhân mình – là quyền và chọn lựa riêng. Bất chấp những lời đồn thổi về nguồn gốc của số tiền ấy, trong khi giới kinh doanh bàn tán rằng vào tháng trước, VietJet của bà khai lỗ và kêu khó với nhà nước là hãng bay này đang “thiếu hụt khoảng 10,000 tỉ đồng để hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh”.

Không thể phủ nhận rằng hôm nay Việt Nam có rất nhiều người giàu có. Đã qua các thời Việt kiều từ mọi phương trời về quê, xòe ra nắm ngoại tệ khiến ai cũng xanh mắt. Giờ thì thế hệ mới từ trong nước bay ra ngoại quốc mua cả một siêu thị, mua năm ba căn hộ một lúc bằng tiền mặt là chuyện bình thường. Dân làm lụng đầu tắt mặt tối, đóng thuế sôi mồ hôi cho chính phủ tư bản ngẩn người hỏi nhau “vì sao họ nhiều tiền vậy? Họ làm cách làm mà giàu vậy?”.

Việt Nam là một quốc gia chứa nhiều bí ẩn mang màu sắc dị thường. Từ chuyện những bà mẹ, vợ của những người bị đẩy vào trại học tập cải tạo làm sao để nuôi lớn những đứa con nheo nhóc của mình, làm sao có thể giữ gia đình tồn tại được ở miền Nam sau năm 1975, trong thời kỳ dò xét và khắc nghiệt ngăn sông cấm chợ qua từng ngày; cho đến một ngày lại đột nhiên thấy lớp nhà giàu “mới” nổi lên ở khắp nơi, cất giọng huyênh hoang dạy dỗ trên cả truyền hình, báo chí. Những người giàu nhất được xuýt xoa mô tả và đôi khi khoác thêm chiếc áo yêu nước – nhưng không chắc có mấy ai trong số đó có một hồi ký chân thật về đời và cách làm giàu của mình.

Và khi những người giàu “mới” xuất hiện nhiều hơn, họ không kiềm chế nổi sự xa hoa hay sự thèm muốn chứng minh đẳng cấp nhất định của mình, thì cũng sản sinh ra một lớp người ve vuốt và bảo vệ cho giai cấp ấy. Hơn 30 năm trước, ở miền Bắc cũng như miền Nam, khi được hô là “nhà giàu” thì không ít người tái mặt. Giờ thì khác, hợp thức hóa đời sống giàu có là một nhu cầu bức thiết trong đời sống chính trị của giai cấp cách mạng vô sản cầm quyền.

Ở nhiều khu định cư của người Việt Nam trên thế giới, người ta vẫn hay giật mình chứng kiến sự xuất hiện của lớp người mới ấy, còn có thêm con cái, tài sản dịch chuyển… “Toàn là người bên Việt Nam mới qua”, lưu dân người Việt vẫn nói khẽ với nhau. Nhưng điều lạ, đó không là người Việt mà chúng ta thấy mỗi ngày trên các trang báo, truyền hình từ trong nước: Những người cơ cực không thể ngẩng đầu, những người bị bỏ tù vì lên tiếng trước những điều trái khoáy, hay gần nhất, là những đoàn người tháo chạy về quê giữa đại dịch trong niềm tuyệt vọng.

Thỉnh thoảng, ở giữa cuộc trà nước vỉa hè cũng có những cuộc tranh luận về nguồn gốc của người Việt giàu có thượng lưu của đất nước hôm nay. Dĩ nhiên, có những người cả đời gầy dựng và tạo nên của cải đáng tự hào, làm nên những giá trị có thật. Nhưng cũng có rất nhiều trường hợp khác, mà sự bùng phát phồn thịnh của họ – hay gia đình họ – có thể làm chung quanh ngỡ ngàng. Trên báo chí, thỉnh thoảng có người tự tiết lộ, giải thích rằng họ đã qua một thời gian dài buôn chổi đót hay làm men giá đỗ, trồng cây cảnh… nhưng nói gì thì nói, tầng lớp đó tạo ra sự hào nhoáng nhất định về một Việt Nam, và cũng tạo ra những hố thẳm về sự cách biệt giai tầng của cả Việt Nam.

Không chỉ người Việt nhìn nhau và thắc mắc. Nhìn vào Trung Quốc, nhiều người nước ngoài cũng tò mò khôn xiết. Trên tờ Financial Review, với bài viết có tên “Người giàu Trung Quốc: Họ lấy tiền ở đâu ra vậy?” (China’s rich: where do they get their money?), nhà báo nữ Sul-Lin Tan đặt một câu hỏi thảng thốt về quê hương của mình, nơi có một mô hình phát triển và cộng đồng “khá giả” bất ngờ mà cô nhìn thấy. Một trong những biểu hiện của cộng đồng khá giả đó là họ luôn mang căn bệnh cố phô ra hình ảnh giai cấp của họ. Nếu để ý, bạn cũng thấy người Việt Nam lâu nay cũng có một tầng lớp thích giới thiệu mình như vậy với đủ các chiều đạo đức giả lẫn biểu lộ trơ trẽn. Sâu thẳm trong việc trình bày sự giàu có của mình, có không ít những vị đại gia muốn được chính danh trong đời sống, chứ không cần e dè che đậy như nhiều năm trước. Dường như thời đã tới rồi.

Tháng Sáu năm nay, trên tờ SCMP, trong bài Indonesia targets its crazy rich Asians with 35 per cent income tax in bid to heal coronavirus-hit economy”, tác giả cho biết rằng, chính phủ Indonesia đang dò tìm để xem những “kẻ giàu điên cuồng” – giàu không giải thích được là như thế nào để đánh thuế thu nhập lên 35%. Nghe tin không khỏi mỉm cười: Indonesia, đất nước căm ghét cộng sản đến tận xương tủy, nhưng hành động không khác gì lý thuyết tinh thần cộng sản cao quý đã mất ở Châu Á. Indonesia gọi những kẻ đó là giàu điên cuồng (crazy rich). Loại giàu mà ở nước Mỹ vào thập niên 1950-1960 chỉ có bọn băng đảng, buôn lậu và tham nhũng cấu kết với chính quyền mới có thể tạo được cơ ngơi.

“Tiền của họ từ đâu mà có?”, nhà báo Sul-Lin Tan nhận được lời đáp từ một nhà đầu tư Trung Quốc giấu tên, rằng “Tiền? Mọi thứ đến từ những người làm quần quật ngày đêm ở Trung Quốc”. Bộ phim Crazy Rich Asians phát hành năm 2018 là một lời giải thích nhỏ. Mặc dù bộ phim mượn bối cảnh ở Singapore chứ không phải Trung Quốc, nhưng câu chuyện thì đầy gợi ý. Rõ ràng có nhiều loại của cải ở châu Á, nhất là ở các nước độc tài cộng sản mà nhiều người ở phương Tây không thể nào hiểu được. “Tôi từng chứng kiến ​​nhiều người phương Tây há hốc mồm, trong một buổi bán biệt thự đắt tiền hoặc một bữa tiệc châu Á ngập tràn Prada và trứng cá muối. Nhưng nên nhớ, phía sau những điều đó vẫn là vô số người nghèo của đất nước họ” – bà Sul-Lin Tan nói.

Trong một nhận định của Aidan Foster Carter, chuyên gia về xã hội học và nghiên cứu Bắc Hàn hiện đại vào năm 2013, ông mô tả rằng chế độ cộng sản này dựng nên một mô hình kiểu mẫu mà Trung Quốc lẫn các nước cộng sản khác đều âm thầm học theo. Đó là hình thái đảng toàn trị và chỉ có giai cấp khá giả ăn theo đảng, còn lại tất cả – là nhân dân cần lao. Đó là một bộ máy nô lệ kiểu mẫu nuôi sống và duy trì chế độ. Giả như một đại nạn tới, chính quyền Bắc Hàn kêu cứu, điều đó không có nghĩa họ yêu nhân dân mà thật ra chỉ là sợ mất hay hao hụt tần suất duy trì chế độ từ nhân dân – lực lượng nô lệ.

Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy sự ích kỷ và tự mãn của một giai cấp khá giả lộ diện ở các nước độc tài – cộng sản, thỉnh thoảng bộc lộ qua lời ủng hộ nhiệt thành các chính sách của nhà nước, hay tuyên bố vung vít về hiện trạng xã hội như một triết gia. Nhưng nhiều người trong số họ luôn thầm kín ôm ấp những khát vọng xây dựng những thành trì khác của cuộc đời bên ngoài quê hương mình như một loại bảo hiểm hưởng thụ bí mật.

Bạn hãy ngồi xuống, tự ngẫm nghĩ xem mình đã bắt gặp những điều này ở đâu. trong đời mình?

 


Saturday, November 6, 2021

Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng bị công an triệu tập lần 4


Bà Võ Xuân Loan, người đại diện của Hội thánh Truyền giáo Phục Hưng cho biết là bà đã nhận giấy mời triệu tập lần thứ 4 (ngày 8-11-2021) của công an quận Gò Vấp. Theo nội dung ghi, thì để điều tra làm rõ vụ án hình sự “làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm cho người, phát hiện ngày 26-5”. Tuy nhiên, bà Võ Xuân Loan đã từ chối tiếp nhận cuộc gặp. Có vẻ như phía công an quận Gò Vấp vẫn ráo riết muốn tìm một hình ảnh nào đó, nhằm giải thích chuyện dịch bệnh đã diễn ra sau đợt nghỉ lễ rầm rộ 30-4 và 1-5-2021. 

Từ Gò Vấp, Sài Gòn, bà Võ Xuân Loan đã dành ít phút để tâm tình về câu chuyện “lây lan” này.

Như đã biết, chúng tôi bị nhiễm Covid vào cuối tháng 5, thì vào ngày 29-5 đã có lệnh khởi tố được công bố trên tất cả báo chí – nhưng chúng tôi lại không nhận được văn bản nào rằng Hội thánh chúng tôi bị điều tra ra và khởi tố hình sự. Chuyện này ảnh hưởng đến Cả Hội Thánh và cộng đồng dân Chúa khắp nơi. Có  khoảng 23 người có giấy triệu tập để điều tra, có người bị triệu tập một lần, có người hai lần. Riêng tôi, thì đến nay đã 4 lần.’

Thưa, cô có thể nói qua về nội dung của các cuộc thẩm vấn đó, thực chất họ muốn xác định điều gì?

Phía công an muốn tìm hiểu xem là là ngày 29-4, tôi về từ Hà Nội có nhiễm bệnh chưa. Nhưng điều đáng nói là vào thời gian đó, Hà Nội không có bất kỳ cảnh báo nào về ổ dịch hay phát dịch cả. Qua đến 30-4 và 1-5 thì cả nước cùng nhau hội hè vui chơi. Công an hỏi tôi là sao về thành phố mà không khai báo y tế, nhưng rõ là chuyện khai báo, tôi đã làm ngoài phi trường như mọi người – cả hai phi trường đi và đến.

Sau đó, họ xoáy vào chuyện tôi có giữ 5K trong sinh hoạt tôn giáo hay không. Họ tới tận nhà tôi để lấy thước đo xem mọi người có đủ khoảng cách hay không. Tôi phát khẩu trang cho mọi tín hữu nhưng không thể kiểm soát hết lúc nào có người bỏ ra hay không. Riêng tôi khi giảng, thì không đeo, do đã giữ khoảng cách.

Phần Hội thánh, thì những gì chính phủ ban hành về số người sinh hoạt tín ngưỡng, chúng tôi tuân thủ. Nhưng khi tôi đang nằm bệnh viện, rất nhiều bài báo lại viết rằng tôi không chịu tuân thủ các nguyên tắc chống dịch. Nhưng họ chưa hề gặp tôi, chưa hề gặp các tín hữu của tôi cũng như chưa từng đến Hội thánh, vậy sao họ có kết luận chắc chắn như vậy? Tôi đọc và vô cùng ngạc nhiên về các mô tả “như thật” của họ. Lúc đó, tôi khao khát được gặp một nhà báo chân chính để được nói, tiếng nói của người trong cuộc.

Có chuyện này, hôm nay tôi mới kể, là lúc tôi đang mong mỏi được gặp một nhà báo nào đó gặp tôi, để nghe tôi kể lại cho đúng chuyện của người trong cuộc, thì có một phóng viên trong nước gọi tôi ngay khi tôi đang ở Bv Nhiệt Đới và hỏi lại những điều mà toàn bộ truyền thông nhà nước bên ngoài đang nói về tôi. Tôi rất mừng  và kể lại hết mọi thứ. Phóng viên ấy sau khi nghe hết chuyện, nói rằng sẽ viết lại sự thật này và gửi cho tôi xem lại trước khi đăng.

Thế nhưng chỉ vài ngày sau, người phóng viên ấy đã gọi lại cho tôi với lời xin lỗi, ngại ngùng nói rằng bài viết cải chính ấy không được phép đăng. Tôi cũng buồn nhưng thông cảm, và cũng từ lúc đó, tôi đã hiểu là tôi và Hội thánh đang ở trong tình huống như thế nào !

Tôi thấy mình lạc lõng giữa các lời kết tội, và sự giận dữ đổ lên chúng tôi. Chưa bao giờ tôi mong mỏi về sự công chính trong truyền thông như hiện nay.

Bà Võ Xuân Loan (bìa trái), cùng các tín hữu trong một đợt thiện nguyện 2020

Về các trường hợp lây nhiễm được gọi là lừng danh ở Việt Nam trong đại dịch, chẳng hạn như năm 2020, đã có nữ bệnh nhân (thường dân) số 17 lây nhiễm khiến cả Hà Nội phải giãn cách. Rồi bệnh nhân số 21, được biết là ông Nguyễn Quang Thuấn, phó chủ tịch Hội Đồng Lý Luận Trung Ương đã đi khắp nơi, được báo chí xác định là lây nhiễm cho hàng trăm người. Nhưng rõ là họ được xem là bệnh nhân và được tránh né gọi tên, và còn có báo chí viết như tạo thông cảm. Về phần mình, đối chiếu với những điều đó, cô có suy nghĩ gì?

Tôi chỉ nói là cảm thấy buồn. Với tư cách là một người giảng đạo , tôi có thể bước qua những đau thương vì Chúa cũng đã từng bị như vậy.  Nhưng là con người thì cũng bàng hoàng khi sau một đêm, chúng tôi thấy mình bị treo lên giữa chợ với những sự tấn công khó hiểu. Tất cả mọi bệnh nhân COVID-19 trước chúng tôi, đều được gọi bằng số, nhưng đến chúng tôi thì được chỉ rõ bằng tên, bằng hình ảnh, địa chỉ nhà, số điện thoại và cuộc đời riêng.

Những ngày trên giường bệnh, tôi nghe nhiều người gọi vào thóa mạ, phỉ báng. Thậm chí đòi giết. Dĩ nhiên, đó là bất công. Những trường hợp mà anh nêu, chúng tôi cũng biết nên càng thấu hiểu sự bất công và hoàn cảnh mà mình “được chọn” cho câu chuyện đại dịch này. Chúng tôi xin sự tha thứ của Chúa cho những ai gây bách hại cho  chúng tôi. Những bài học về oan khiên, chúng tôi đã được học từ Chúa. Và chúng tôi chỉ là những con người bình thường không có khả năng kháng cự. Nếu như chúng tôi cũng bị đưa đi, bị phán xử thì noi gương Chúa, chúng tôi sẽ trở nên như “ chiên bị đưa đến hàng làm thịt “ ( Esai 53:7)

Nhưng về phương diện công dân, sống trong một đất nước có luật pháp, thì điều làm chúng tôi lo lắng rằng chuyện trái ngang như vậy đến với chúng tôi, thì bất kỳ ai trong xã hội cũng đều có thể là nạn nhân cả.

Nhưng có những ý kiến nói rằng có vẻ như thư xin lỗi của cô đưa ra giữa sự kiện ồn ào đó, làm đậm thêm suy nghĩ là cô và các tín hữu đã chịu tội là tác nhân lây nhiễm?

Dạ, với tư cách là một người sống với văn hóa của miền Nam Việt Nam từ lâu đời, tôi muốn nói rõ là lời nói xin lỗi của người miền Nam, mang ý nghĩa bao hàm : Ý thức được về bối cảnh phiền hà và xin lỗi, nhưng cũng mang một ý khác là khi nói vậy, không hẳn người ta có lỗi, chắc chắn anh cũng biết điều này. Xin lỗi là một cách trọng thị với người đối diện, chung quanh về những ồn ào làm xáo động đời sống, mà có tên mình trong đó. Tôi  xin lỗi vì những phiền nhiễu đó ảnh hưởng đến rất nhiều người Việt thương yêu của chúng tôi.

Trong các lần thẩm vấn, phía công an đã nói gì về chuyện các ngày lễ 30-4, rồi 1-5 đã chen chúc hàng triệu người vui chơi, kế đến là đợt bầu cử 23-5, làm căn cước công dân thâu đêm suốt sáng… mà không có sự giãn cách nào?

(Cười) anh nghĩ rằng chúng tôi nói được sao? Chồng tôi cũng nói về những điều này nhưng họ chỉ im lặng nghe như cho có. Khi chồng tôi nói xong, họ lập tức quay lại các câu hỏi đặt sẳn của họ để buộc chúng tôi trả lời, mà theo tôi nhận thấy thì mọi thứ chỉ tập trung khép dần chúng tôi về một tội danh.

Về phía bảo vệ lợi ích của mình trước luật pháp, cô và Hội thánh đã chọn được người đại diện pháp lý cho mình chưa?

Chúng tôi không tin nhiều vào kết quả tốt đẹp, đặc biệt khi nhìn lại các tình huống được đẩy lên kỳ lạ như vậy, nhưng luật sư vẫn là người đồng hành cần thiết để nhắc về những yếu tố luật pháp mà chúng tôi không rành rẽ. Hiện nay, chúng tôi đã mời luật sư Đặng Đình Mạnh và Luật sư Nguyễn Thị Hà Thanh để đại diện cho chúng tôi. Tôi đã sống qua 46 năm với nhiều diễn biến mà báo chí nhà nước đã đưa tin về các vụ án, các phiên tòa… nên lúc này, có thể nói là tôi luôn chuẩn bị cho mình một tư thế sẵn sàng trước các tình huống xấu nhất. ‘

Điều muốn nói của cô là gì? Lúc này?

Nếu chúng tôi thật sự là người có tội, chúng tôi không ngại nhìn nhận vì đơn giản là chúng tôi sống với đức tin của mình và không thể nói dối. Nhưng nếu chúng tôi không có tội mà vẫn bị áp đặt tội, thì tôi thật sự ái ngại cho rất nhiều Hội Thánh Tư gia giống như chúng tôi, nhỏ hơn hoặc lớn hơn sẽ phải gặp khó khăn trong tương lai!

Riêng chúng tôi sẽ tiếp tục sống với Đức tin chịu khổ giống như Chúa. Chuyện còn lại, xin để cho lịch sử phán xét.

Xin cám ơn cô Võ Xuân Loan.