Tuesday, November 2, 2021

Nghe tiếng ca cô Út, nhớ thương cải lương miền Nam

 


Nhớ về một giọng ca đi vào lịch sử cải lương miền Nam. Khi những ngôi sao lóe sáng trên bầu trời, mới biết chúng ta đang ở thăm thẳm đêm đen như thế nào của cải lương hôm nay. Kỷ niệm 5 năm ngày mất của bà, nghệ sĩ Út Bạch Lan (2016 - 2021).

Người trong xóm kể rằng đám tang của cô Út không quá rình rang, vì con cháu trọng ý của cô - một người quen cuộc sống nhẹ nhàng, sống bằng tấm lòng chứ không sống bằng hư danh.

Từ lúc nằm bệnh, cô Út đã dặn con cháu rằng cô không cần mộ phần trọng vọng, thiêu và rải tro xuống sông. “Đất dành cho người còn sống”, cô nói. Rồi cô dặn cũng không cần phải làm đám giỗ chi cho phiền. Nhớ nhau để một chén cơm, vái đôi câu đã là có lòng vui hưởng.

Cuộc đời một danh ca lừng lẫy Sài Gòn lục tỉnh, tên tuổi có lúc làm sốt ruột khách hâm mộ ở tận trời Tây, vậy mà cô Út mới thanh bạch và an nhiên làm sao. Giới cải lương hay nhắc chuyện cô được khuyên làm đơn để xin danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, nhưng cô Út nói thôi. Không phải ai cũng hiểu được cô Út. Là một Phật tử, cô Út tin rằng mang một danh phận, cũng không khác gì mang thêm một nghiệp mới nơi trần gian mà cô Út thấy mình đã được rất nhiều.

Trong một vài cuộc trả lời phỏng vấn hiếm hoi về chuyện này, cô Út cười thiệt thà mà nói: “Chuyện Nhà nước muốn tặng danh hiệu cũng là một vinh dự, nhưng Út thì chỉ thấy thêm nữa cũng không làm gì. Lúc mình lên sân khấu, thấy người ta vỗ tay, hết bài, khán giả người ta lên ôm mình, khóc với mình, rồi hun mình... ôi vậy là đủ làm Út vui lắm rồi”.

Ngày cô Út thôi hát trên trần gian, chắc cô sẽ còn thương sân khấu, thương khán giả nhiều hơn khi chứng kiến thế hệ nghệ sĩ sau cô rơi nước mắt như mưa. Trong những video tình cờ ghi lại, có một người tựa như khuyết tật và ăn xin trên đường phố, đã để tấm hình của cô tựa vào cột đèn, để mấy cái bánh men, thắp một cây nhang rồi chắp tay vái cô. Khán giả miền Nam, cải lương miền Nam thương cô Út đứt ruột.

Nói đến cải lương, thì Sài Gòn - Gia Định giống như Hollywood của Huê Kỳ, nơi dân đờn ca tài tử, hát bội… đổ về. Rồi cải lương ra đời với sự kết hợp trình diễn điệu bộ theo kiểu Tây phương nhưng giữ nguyên nền nhạc cổ truyền, tạo nên một nét đặc sắc về nghệ thuật và giải trí của người dân miền Nam đầu thế kỷ XIX.

Khởi nguyên, các nhà nghiên cứu đã ghi lại rằng nghệ thuật hát bội, vốn là một trong những món nghệ thuật độc đáo của dân ngũ Quảng miền Trung (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Ngãi) khi di dân mở cõi vào Nam đã mang theo và khiến không ít giới nhà giàu, quan lại triều đình say mê. Cụ thể như Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt nuôi hẳn một ban hát bội để giải trí. Con của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi cũng mê hát bội không kém.

Nhưng sau năm 1832, khi Lê Văn Duyệt mất đi, vua Minh Mạng lòng giận vẫn không nguôi chuyện riêng nên cho san bằng mộ, xiềng lại và đúc chữ ghi rằng “Chỗ hoạn quan lộng quyền Lê Văn Duyệt chịu tội chết”. Ba năm sau khi tận diệt Lê Văn Khôi tội làm phản, vua Minh Mạng cấm hẳn hát bội trong một thời gian. Tài tử xao xác trốn đi, tìm nghề khác sinh sống nên hát bội ở miền Nam yếu dần.

Mãi đến năm 1874, khi người Pháp cai trị miền Nam, hát bội mới quay lại. Nhưng lúc đó, việc thưởng thức trở nên phổ biến hơn trong dân chúng, nên chuyện mỗi lần muốn thưởng thức phải mời cả một ban hát, lại quá cầu kỳ hoặc tốn kém dựng rạp, đãi người... vì vậy các gia chủ khi có đám tiệc hay muốn thưởng thức ngắn giờ thì chỉ cần mời ít người đến hát, gọi là “hát chặp”. Thầy đờn, đào kép ngồi hát tại chỗ, không cần tô vẽ mặt rườm rà. Thích đoạn nào hát đoạn đó, không cần lớp lang. Mà dàn nhạc thì thu gọn lại, chỉ còn kìm, cò, tranh, sáo. Ấy là buổi hình thành của nhạc tài tử.

Giai thoại về đời cô Út, kể lại rằng từ lúc mới mười tuổi (khoảng 1945-1946), lang bạt lên Sài Gòn cô Út gặp anh thanh niên Văn Vĩ khiếm thị, nhưng có ngón đờn thần sầu quỷ khốc. Cả hai cùng nhau lang thang xa cảng, Chợ Lớn, Sài Gòn để hát kiếm tiền nuôi gia đình. Khách nghe mới đầu chỉ định giải trí tạm, riết rồi cứ nhích tới gần, nghe rồi đòi nghe nữa... ai cũng lạ lùng hai đứa nhỏ có tuyệt kỹ của ngành đờn hát, thương mà cho tiền, nhờ vậy cô Út và anh Văn Vĩ mới lây lất qua ngày, chờ đến lúc vụt sáng như những ngôi sao lớn trên sân khấu cải lương miền Nam.

Vào thập niên 1950, tên của cô Út lừng danh cùng kép độc Thành Được. Lúc đó, khán giả coi tờ quảng cáo, cũng để ý có Út Bạch Lan hay không. Đặc biệt, ngành ghi âm thu đĩa nhựa Việt Nam thời đó, không thể nào thiếu cái tên Út Bạch Lan trong các tuồng định ra mắt. Một trong những dĩa hát gây chấn động thời đó là Thuyền ra cửa biển (hãng dĩa Hồng Hoa), tập hợp toàn danh ca tài tử như Út Trà Ôn, Hoàng Giang, Minh Chí, Thanh Hương. Đặc biệt cô Út (vai Chiêu Trúc Lệ) và Thành Được (vai Diệp Băng Đình) cũng hớp hồn không biết bao nhiêu khán giả.

Có một chi tiết khá độc đáo về chuyện này, là cô Út nổi tiếng trước Thành Được. Nhưng do lỡ thương anh nghệ sĩ này rồi nên khi bà bầu của gánh Kim Chưởng mời ký tái giao kèo, cô Út nài nếu vậy thì phải ký thêm giao kèo với Thành Được. Khi thấy hai người hát ăn ý, mà Thành Được cũng quá xuất sắc, bà bầu gánh Kim Chưởng làm liền. Và đó cũng là lý do mà cả hai xuất hiện đồng diễn trong tuồng Thuyền ra cửa biển.

Lịch sử ghi âm Việt Nam có ghi nhận bản tân nhạc đầu tiên được ghi âm là bài Kiếp hoa (1938) của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên phổ thơ Nguyễn Văn Cổn, người ở Huế. Nhưng thật sự tạo ra một thị trường rộng lớn và thu về vô số tiền bạc, lại là dĩa cải lương miền Nam. Tuồng Thuyền ra cửa biển là một trong những ví dụ, thậm chí thời đó, khán giả đài phát thanh mê mệt, yêu cầu nhiều quá, đến mức đài phải mua bản quyền phát đi phát lại cả năm. Chỉ nhiêu đó, tiền đã không biết bao nhiêu mà kể.

Khán giả miền Nam thời đó chịu móc tiền túi mua dĩa hát lắm. Nhưng đặc biệt là phải dòm coi có tên danh ca như Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thành Được, Hữu Phước... hay không mới mua. Thậm chí, có những tuồng không kịp thu âm, nhưng bài ca thì hay quá khiến dân chung phải đi mua các bản in lời bài ca (hồi xưa gọi là bài ca nhỏ). Lúc này thì người Hoa cũng nhảy vô kinh doanh bài ca nhỏ, vì bán chạy vô cùng mà lại dễ làm. Một bài ca có mấy cắc, ai cũng mua được, mà sẵn có đài phát thanh như quảng cáo giùm, giờ chỉ đem ra chợ khắp mọi miền mà bán thôi.

Thập niên 1970, thời của truyền hình đưa những ngôi sao cải lương truyền hình xuất hiện như Thanh Nga, Mộng Tuyền, Kim Ngọc, Dũng Thanh Lâm... nhưng cũng là thời đánh dấu một giai đoạn sân khấu truyền thống của cải lương miền Nam suy yếu. Chuyện xưa ghi lại rằng vào Tết âm lịch Canh Tuất 1970, đoàn Dạ Lý Hương đang thu tiền ầm ầm, tự nhiên đến suất 8 giờ tối ở rạp Quốc Thanh, lại vắng teo, thu về được có gần 300 ngàn đồng.

Hóa ra trước đó, đoàn nhận lời thu hình tuồng cho truyền hình, được tiền tưởng bở. Ngay giờ đó, truyền hình chiếu đúng tuồng của đoàn Dạ Lý Hương đang diễn. Được coi miễn phí mà lại qua tivi, nên dân chúng chọn ở nhà. Đó là một trong những bài học và cuộc xung đột đầu tiên của truyền hình và sân khấu cải lương miền Nam vậy. Cũng vì thâm hụt, nên sau đó ít lâu, có đến bảy đoàn hát ở Sài Gòn hợp lại, ra quyết nghị là cùng nhau không đụng vô truyền hình để còn sống sót.

Nghe cô Út nỉ non, sầu muộn mà nhớ cải lương miền Nam. Ngành ca hát ra đời - với sự kết hợp lời thoại và điệu bộ diễn xuất của kịch nghệ phương Tây, âm nhạc thì truyền thống và tuồng tích là những drama thượng thừa không thua gì các kịch bản trên thế giới - lúc này dường như những drama lặng lẽ hơn bao giờ hết. Nhất là khi thiếu vắng những tượng đài lớn như cô Út Bạch Lan.

-------------------------------

 * Bài viết sử dụng tư liệu tham khảo từ nhà nghiên cứu Ngành Mai, nhà nghiên cứu Nguyễn Tuấn Khanh, tạp chí Nông Cổ Mín Đàm, Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam của Trần Văn Khê.

 

Tuesday, October 5, 2021

Phạm Duy giữa chúng ta

Phạm Duy vẫn ở đâu đó trong cuộc đời này, không chỉ 100 năm này, mà có lẽ còn nhiều trăm năm nữa trong những trái tim thuần khiết yêu nước Việt, đi cùng những giai điệu gần gũi và khoan nhặt của ông.

Nghe nhạc Phạm Duy, đôi lúc tôi nhận ra như nhu cầu của một người Việt. Nó thôi thúc và cồn cào. Thậm chí khi im lặng nghe mà cứ tưởng như mình đang cất tiếng, bởi lời ca đã âm vọng không biết bao điều. Và tôi cũng đã chứng kiến điều như vậy. 

Có lần linh mục Đặng San ở Sài Gòn trở bệnh nặng. Ông nằm lặng lẽ trong phòng mình nhiều giờ rồi lặng lẽ nhắn cho một cô bạn của tôi “có thể đến hát cho Cha nghe một bài Phạm Duy không?”. Bác sĩ không cho ông hút thuốc nữa, cũng không cho xem điện thoại nữa. Sự tĩnh lặng và chăm sóc chu đáo thể xác, vẫn không đủ cho phần hồn. Ông nằm nhìn lên trần nhà. Im lặng. Thở mệt nhọc.

Tôi đến cùng cô bạn của mình, mang theo cây guitar. Cha ngồi dậy, vui như trẻ nhỏ. Ông đòi nghe hát ngay. Đàn so dây và bài hát Tôi đang mơ giấc mộng dài vang lên. Những bài hát của Phạm Duy có ma lực lạ lùng, như nhấn sâu người nghe vào một hồ chứa tâm trạng mênh mông, vẫy vùng tâm hoặc. Hình ảnh của bài hát như bao bọc không gian của mọi người chung quanh. Lần đầu tiên tôi thấy một cụ già tóc bạc, yếu ớt trên xe lăn khi nghe được đôi câu, đã ôm mặt khóc nức nở. Ông khóc như gặp lại người thân, và cố ôm mặt vì sợ tiếng khóc sẽ ngăn mọi người ngừng trình bày bài hát đó.

Chắc cũng nên nói một chút về linh mục Đặng San, để biết ông không phải là một người dễ bị chinh phục bởi mọi loại văn nghệ. Khởi đầu ông chọn tự mình trở thành tu sĩ Phật Giáo khổ hạnh, bỏ lên núi sống một mình với kinh kệ. Rồi một ngày mưa gió, ông ngã lăn bất tỉnh và được người ta đưa về một nhà dòng Công Giáo gần đó cứu giúp. Sau một thời gian ông được ơn gọi và trở thành linh mục. Những kiến thức uyên bác của cả hai hệ tín ngưỡng đầy ắp trong người, nên khi ông giảng hay viết đều song hành các dẫn chứng của cả hai tôn giáo.

Ấy vậy mà, con người chứa trong mình sâu thẳm những triết giáo khôn ngoan hàng ngàn năm đó, lại bật khóc, và nói “cần gì tìm cao xa nữa, bài hát này cất tiếng, nó đã đẹp như một thánh lễ rồi”. Trong phút giây ấy, tôi chợt nhận ra rằng nếu chúng ta yêu dân tộc này, yêu những khổ đau và nghịch cảnh của quê hương này đã và đang chịu, thì nghe nhạc Phạm Duy mà bật khóc cũng không phải là điều quá lạ lùng.

Có một thời gian dài, tôi cứ ám ảnh về bài Bên cầu biên giới của nhạc sĩ Phạm Duy. Những gì day dứt tự hỏi lòng, ông đều trải ra đủ trên từng nốt nhạc, từng nhịp chất vấn dồn dập của đời người và thời thế. Đời hỏi ông muốn được vinh danh như một kẻ làm chính trị không? Ông đã trả lời bằng cách bước xuống tàu, đi theo con đường của một nghệ sĩ, bất chấp phận mình có thể nổi trôi theo vận nước. Nhiều thập niên sau, ông nhắc lại điều này với tôi trong một lần được hỏi “Tôi thấy mình hạnh phúc là một người hát rong, một người hát rong hạnh phúc”.

Hành trình của những người hát rong trong lịch sử nhân loại, có kẻ mua vui cho bạo chúa, có kẻ sống và chấp nhận rơi đầu để giữ vẹn lời ca về sự thật. Phạm Duy đã làm trọn phần hát rong cao quý của mình, ông hát cho con người và không đem tài năng của mình để phục vụ bạo quyền hay dối trá.

Dòng chảy đau đớn của dân tộc Việt Nam đi đến đâu, vẫn thấy có ông nơi đó kể lại, hát lại. Từ cuộc chia ly 1954 cho đến những ngày dựng đời cùng Bình Ca. Rồi cả khi một lần nữa rời khỏi quê nhà 1975, ông vẫn không dừng ghi lại ký ức với Tỵ nạn ca, Ngục Ca… Và đến cả những tiên đề của đất nước trong Rong Ca về thế kỷ mới.

Năm 2002, ông gửi về tặng tôi quyển Chân Dung Nghệ Sĩ của Trường Kỳ, trong đó có bài về ông. Viết trong thư tay, ông dặn “Không phải cái gì viết trong đây về tôi cũng đúng. Nhưng không đúng cũng là một kỷ niệm. Đời người rồi cái gì cũng thành kỷ niệm”. Đọc đến đó, tôi mỉm cười. Ông lại chơi chữ với tôi rồi, như để nói về chính cuộc đời của ông. Tôi hình dung cái cách rất “Phạm Duy” của ông, cười nhếch mép, nheo mắt, gật gù. Cái cách y như lúc ông về Việt Nam và nói với tôi “Anh có cái kiểu hỏi han khó chơi lắm. Nhưng được đấy!”.

Trước lúc ông mất, tôi có ghé nhà ở quận 11, Sài Gòn, thăm ông. Lúc đó, ông gần như đã cạo trọc, yếu ớt và ngồi trên xe lăn. Thấy tôi cất lời chào, ông khoát tay như bảo “chờ đấy, đừng hỏi” và cho đẩy xe đến trước một cái tivi lớn, phát một cái DVD tự làm slideshow, trình bày chi tiết từ lúc bệnh, đi cấp cứu cho đến về nhà. “Đấy, nhiều người đến hỏi lắm, cho xem thì biết, khỏi mất công trả lời”, ông cười, có vẻ khoái trá vì thấy tôi hơi ngỡ ngàng với sự chuẩn bị của ông. Có người khuyên là ông nên về Mỹ, vì có thể việc chăm sóc y tế sẽ tốt hơn. Ông lại hỏi ngược “rồi được thêm bao lâu nữa?”

Hơn một năm sau, ông mất. Dường như về cuối đời, chọn về Việt Nam, ở lại, và ở lại mãi mãi là ước muốn lớn nhất của đời ông. Một lần trả lời phỏng vấn của đài BBC, ông nói “Tôi về đây không phải là tôi đi tìm danh vọng, hay tôi tìm đồng tiền kinh tế. Không phải. Tôi về đây là vì tôi yêu nước thôi. Mà tôi phải về vì người già nào cũng muốn chết ở quê hương của mình, thế thôi”.

Ngay cả đến cái chết, Phạm Duy cũng như câu chuyện kể sống động ở giữa chúng ta, nhắc về những người Việt Nam khốn đốn trước cơ đồ cha ông để lại bị cưa xẻ, bất lực trước những dòng người vơ vét đất mẹ bằng quyền lực chính trị, giàu có và chọn thành công dân và chết ở một quốc gia xa lạ nào đó. Nhưng quê hương, đó là thứ không thể lìa xa với mỗi chúng ta, những người yêu nước Việt.

Phạm Duy không hô hào yêu nước. Nhưng âm nhạc của ông dạy người ta yêu nước. Dạy và thấm sâu ở từng câu chữ, giai điệu. Bất kể tôi, hay một linh mục, hoặc một người bạn trẻ nào đó lắng nghe rồi cũng sẽ tự thấy mình có một duyên lành với đất nước mình. Đó là điều được chia sẻ từ quyền năng của một người hát rong sống trọn vẹn với nghiệp đời. Người hát rong đó vẫn ở giữa chúng ta, trong muôn ngàn lời tha thiết Việt Nam, khắc sâu, thấm sâu hơn cả những bài giáo khoa buộc phải học.

---------

Sài Gòn

5/10/2021 – 100 năm ngày sinh người hát rong vĩ đại của âm nhạc Việt Nam, PHẠM DUY

Sunday, October 3, 2021

Phạm Chí Dũng & Bài Thánh ca Tự do

Một ngày trong thời phong tỏa vì dịch bệnh ở Sài Gòn, tôi nhận được lời nhắc mà anh Phạm Chí Dũng phó thác từ trại giam: Anh viết một bài thơ về niềm tin nơi Thiên Chúa, và mong được nghe nó vang lên như một bài hát.

Từ tháng 1-2-2021, Phạm Chí Dũng nhận bản án 15 năm của mình và im lặng không kháng án. Sự im lặng được bà Renate Künast, Dân biểu Liên bang Đức, mô tả là “bàng hoàng” khi nghe tin này. Dường như thay vì dành thời gian kháng án, Phạm Chí Dũng đã tận dụng nó để viết một bài thơ.

Vậy thì tôi nghĩ mình cũng không được phép chậm trễ hơn để giới thiệu về bài hát này.


Ghi chép trong trí nhớ về Phạm Chí Dũng

Có một Phạm Chí Dũng rất khác mà tôi biết, kể từ khi nghe tin anh bị bắt cho đến hôm nay. Nhất là khi biết anh lặng lẽ chọn Thiên Chúa Làm người dẫn đường tinh thần cho anh.

Trong suy nghĩ của mình, tôi luôn nhìn thấy Phạm Chí Dũng là người duy lý. Điều đó, khiến anh trở thành là một người tranh luận đáng gờm – kể cả khi anh còn làm việc kiểm soát báo chí ở Sài Gòn, cho đến khi anh trở thành người phản tỉnh và đốt lên ngọn đuốc về một tổ chức truyền thông tự do, ngay trong lòng của nhà nước độc đảng.

Tôi nhớ thời mình còn làm báo, anh Dũng chạy xe honda vào tòa soạn Tuổi Trẻ, tay mang theo chiếc cặp tài liệu và lạnh lùng chất vấn người chịu trách nhiệm trang báo. Anh hỏi và dồn, có lúc đập bàn và hỏi lớn “Vậy anh không thấy những điều này là dẫn đến tù à?”. Cả đám phóng viên mới vào đều xanh mắt cá, ngồi thì thào với nhau về những điều cấm kỵ không thành văn của chế độ. Lúc đó, anh Dũng quả thực là một nhân viên cần mẫn và đắc lực phục vụ cho nền báo chí một chiều. Nói gì thì nói, anh là một người rất giỏi.

Đó chính là lý do, khi Phạm Chí Dũng đột nhiên thay đổi với những bài viết bình luận không thuận đường với quan điểm nhà nước, và nhất là khi anh tuyên bố ra mắt Hội Nhà báo Độc Lập Việt Nam (IJAVN), nhiều người không khỏi bất ngờ. Trục xoay 180 độ, về con người và thể hiện bằng những lý luận công khai đã làm nhiều người cảm mến, nhưng cũng không ít người nghi ngờ là trò chim mồi của phía Nhà nước.

Phạm Chí Dũng cũng rất bản lĩnh để đi qua những điều đó, và hơn nữa, rất thẳng thắn.

Còn nhớ trong một lần gặp mặt tiệc mừng tân niên 2016, do tòa Tổng Lãnh Sự Anh tại Sài Gòn tổ chức, tôi đến và nhìn thấy Phạm Chí Dũng ở đó. Anh nói với mọi người về Hội Nhà báo Độc Lập và những dự kiến trong sự hào hứng.  Rồi đột nhiên anh đưa mắt nhìn tôi, cười và hỏi nhanh “Tuấn Khanh có nghe người ta nói gì về mình hay Hội nhà báo Độc Lập không?”. “Anh muốn em nói thật à?”. “Ừ, thì mình cần thông tin thật mà”. Tôi hơi ngần ngừ một chút, rồi cười “Không ít người nói anh giống như chim mồi trong cuộc chơi dân chủ thông tin này”.

Tôi thấy anh Phạm Chí Dũng thoáng cau mày. Anh nhìn tôi và như gật gật đầu, nhưng không nói gì. Chắc chắn là anh cũng đã nghe qua những điều này, nhưng để nghe trực tiếp như vậy, cũng không dễ chấp nhận ngay. Nhưng nay anh đã khác rồi. Anh không đặt lại câu hỏi nào chất vấn phủ đầu, cũng không đập tay nói gì dữ dội như trước. Anh thật sự bước vào con đường có tiếng nói đa chiều, và lắng nghe mọi tiếng nói đa chiều chứ không còn vướng thói quen mượn thứ quyền lực nào đó để bịt miệng.

Tôi bắt đầu theo dõi anh Phạm Chí Dũng nhiều hơn từ đó. Những bài phân tích thời sự của anh, các cuộc trò chuyện trực tuyến… để có thể tìm hiểu anh rõ hơn, với bản thân mình. Không thể không nhận ra ở Phạm Chí Dũng có 3 điểm đặc biệt đáng nể: trí nhớ kinh khủng về các dữ kiện, lập luận phân tích tại chỗ với mọi vấn đề, hiểu biết sâu sắc về hệ thống mà anh đã phục vụ và rời bỏ.

Điều mà Phạm Chí Dũng làm được, gây khó chịu không ít với những người kiểm soát báo chí Việt Nam, là tổ chức loạt bài nhận dạng, gọi tên và bình luận đúng các vấn đề trọng yếu của nhà nước, từ Luật An Ninh Mạng, Luật cho Xã Hội Dân Sự, Luật cho Công Đoàn Độc Lập… mọi thứ được tập trung và hệ thống chứ không phản biện lan man, góp bài cho đủ mặt của Hội. Mọi luận điệu mỉa mai và tấn công Phạm Chí Dũng sau khi anh bị bắt, từ chụp mũ là nhận tiền thế lực phản động, cho đến ảo tưởng báo chí tự do… đều phản ánh về sự cay cú và thất bại, nhất là với bản án 15 năm.

Thay đổi và phản biện của Phạm Chí Dũng có giá trị gì trong những năm qua. Có lần nghe anh tâm sự là “những đảng viên theo dõi thường xuyên. Thậm chí cánh công an cũng vậy. Những người công an về hưu tiết lộ cho mình biết vậy. Không đâu xa, ngay cả một sĩ quan công an về hưu ở ngay phường mình cư trú cũng cho biết ông theo dõi thường xuyên bài vở trên Việt Nam Thời Báo và đồng tình với những luận điểm khách quan của Hội Nhà báo Độc Lập”.

Với bản tính xốc nổi của mình, tôi lại làm anh chựng lại một lần nữa “Có những người. hay tổ chức vẫn chọn cách phản biện để nhận được sự chú ý, sau đó tìm đến sự thỏa hiệp, khác biệt với những gì mình đã khởi đầu?” – Tôi nhớ lúc đó, cuối cùng anh cũng cười “mày vẫn có cái tính này hả Khanh”, rồi trả lời rành mạch “phản biện hay chỉ trích mang tính ôn hòa, không có nghĩa là Hội Nhà báo Độc Lập đang đi tìm con đường thỏa hiệp với Đảng Cộng Sản. Hội Nhà báo Độc Lập không bao giờ có quan điểm đó”.

Năm 2018, anh gọi điện thoại hỏi tôi tham gia Hội không, giọng cũng rất sốc “nói nhanh, trả lời nhanh nhé. Vào Hội và viết bài với anh?”. Tôi từ chối, nghe giọng anh có vẻ không vui nhưng tôn trọng suy nghĩ của tôi. “Để em đứng một mình đi, tính em điên điên kiểu văn nghệ và vô kỷ luật, lại hay nói thẳng dễ gây bất hòa. Nên để em ủng hộ anh từ bên ngoài”.

Khi tôi trả lời anh những điều như vậy, cũng là lúc cuộc đời của cựu đảng viên Phạm Chí Dũng, xuất thân từ một gia đình truyền thống cộng sản, bắt đầu gặp lao đao liên tục. Nhưng người quen của anh kể là anh liên tục bị chận cửa, ép quay về nhà khi thành phố có biểu tình chống Trung Quốc, khi có hội họp... Anh cũng không khác gì bạn bè tôi hay tôi vào lúc đó. Anh là một phần của những người muốn cất lên tiếng nói khác biệt. Anh đã là một con người thật sự khác. Nói theo kiểu nhà văn Dương Thu Hương là “chọn ngồi bệt xuống cỏ với nhân dân và đối diện với chính quyền”.

Tôi tin vào những đổi thay và chọn lựa của con người. Nên tôi nhìn thấy ở Phạm Chí Dũng một hình ảnh mới mẻ nhưng quen thuộc: vẫn quyết liệt và tự giành phần chủ động nơi suy nghĩ và lý tưởng mình chọn phục vụ. Lịch sử hiện đại Việt Nam đã chứng minh biết bao điều “khác” thú vị như vậy. Chẳng hạn như trường hợp các cán bộ tôn giáo cấp cao Đỗ Trung Hiếu (với Phật Giáo), ông Nguyễn Hoàng Đức (với Công Giáo).

Nếu vài năm trước, nghe tin anh bị bắt, có lẽ tôi sẽ ngạc nhiên – bởi vẫn mơ hồ cũng những suy nghĩ ngu muội rằng sau lưng anh có “thế lực” nào đó chống đỡ. Nhưng tháng 1-2021, nghe cái án 15 năm tù, rồi nghe anh không buồn kháng cáo, tôi thấy mình như hiểu anh nhiều hơn. Đến khi đọc được bài thơ của anh Phạm Chí Dũng về việc anh chọn Thiên Chúa là người dẫn dắt đời mình, mọi thứ hiện ra là điều rất diệu kỳ của cuộc đời, nhưng hợp lý làm sao. Anh chọn Chúa làm lý tưởng của mình, đối lập với con đường vô thần đã qua, thì rõ anh đang khát khao nối dài con đường mình đã thay đổi, đã chọn, với một niềm tin mới.

Tôi điểm lại, thấy mình cũng được dẫn vào một cung đường thật lạ lùng. Tất cả những cái tên như Trần Huỳnh Duy Thức, Tô Hải, Phạm Chí Dũng… đều gửi gắm tôi những tiếng hát không thành lời của họ. Lại nhớ Phạm Đoan Trang, trước khi đi tù, cô ấy bảo “Em không sáng tác được, nhưng anh có bài nào cho em, thì đưa em hát với”. Tôi chưa đưa kịp thì Trang đã không ở bên ngoài để nhận. Tất cả những con người ấy, chẳng phải họ đã hợp thành một bài ca lớn, vẫn cứ âm vang mỗi ngày với khát khao con người thức tỉnh trong niềm hy vọng hay sao?

 

Ghi chú:

Đỗ Trung Hiếu: Cán bộ cấp cao thuộc Ban Tôn giáo Chính phủ, có trách nhiệm kiểm soát Phật Giáo sau năm 1975, bất đồng vì tiến trình hủy bỏ Giáo hội Phật Giáo Thống Nhất, nên đã xin ra khỏi hệ thống vào năm 1990.

Nguyễn Hoàng Đức: Cán Bộ đặc phái Phòng Tôn giáo, Cục Chống Phản Động của Bộ Công an, người trực tiếp kiểm soát Đức Cha - Hồng Y Nguyễn Văn Thuận trong thời gian bị cầm cố ở miền Bắc (1976-1989), đã được cảm hóa, và xin theo đạo, ra khỏi ngành.

Thursday, September 30, 2021

Công lý 404

Buổi tối ngày cuối tháng 9-2021, khi câu chuyện về người phụ nữ bị đủ loại lực lượng của chính quyền tấn công ngay trong căn nhà mình ở Thuận An, Bình Dương, vẫn còn đang nóng hổi trong dư luận, thì các bài báo nói tương đối đủ và đúng về sự kiện này đột nhiên mất dạng. Nhiều người hỏi nhau, và thử tìm vào báo Tuổi Trẻ điện tử, nơi có bài phát pháo đầu tiên mang tên “Phá cửa cưỡng chế dân đi xét nghiệm: Vi phạm quyền con người”, thì đã chỉ còn lại phần thông báo 404, lỗi vì không tìm thấy.

Việc những người làm kiểm duyệt ở Việt Nam cướp đi chứng tích, hay bịt miệng các ngôn luận từ giới truyền thông là điều không lạ. Thậm chí thói quen thô bỉ đó ngày càng trắng trợn đến mức trở thành chuyện cười mỉa thường ngày của đám đông dân chúng.

Nhưng điều đáng nói, sự xóa bỏ này chỉ tạm ẩn đi với người Việt Nam thôi. Hãy thử một dòng mô tả được tìm kiếm trên bing.com, đã cho thấy 3000 kết quả, thay vào lúc các trang bài ở Việt Nam bị xóa. Hình ảnh ông Võ Thanh Quan, Bí thư phường Vĩnh Phú đang hiên ngang và quyết liệt chỉ huy cuộc đột nhập tư gia có phụ nữ, trẻ em, bẻ tay rồi xô đẩy xuống sân để xét nghiệm, nay đã trở thành chuyện của cả thế giới rồi.

Những kẻ làm kiểm duyệt và quan chức ở Thuận An, Bình Dương đang muốn che giấu với ai vậy? Những hành động can thiệp rẻ tiền này, có phải đã vô hình trung biến sai lầm của một cá nhân lạm quyền và không đủ tư cách làm quan tại một thành phố nhỏ, trở thành chuyện bao che ở tầm quốc gia, mà tất cả hệ thống đều chịu vết nhơ chung?

Đừng quên, khi diễn giải và cố nói giảm nhẹ về hành động phi pháp như trộm cướp của ông Võ Thanh Quan, bà Huỳnh Thị Thanh Phương, bí thư thành phố Thuận An còn nhấn mạnh là “khi cả hệ thống chính trị căng mình chống dịch, tất cả điều luật đều không thể áp dụng bình thường”. Có nghĩa, trước sai lầm của thủ hạ, bà Phương đã đẩy cả một hệ thống chính trị Cộng sản Việt Nam án ngữ, chịu trách nhiệm thay cho hành động hồ đồ của một quan chức cấp thấp. Và hơn nữa, bà cũng không quên phủ nhận luôn giá trị luật pháp hiện hành của một quốc gia, để bao che cho tay chân của mình.

Thật khủng khiếp, chỉ là một vết thương nhỏ của “hệ thống chính trị” ở Bình Dương mà bà Huỳnh Thị Thanh Phương đã giới thiệu đủ cho người dân Việt Nam cả nước – và cả thế giới - thấy cuộc sống của nhân dân Việt Nam, bình an của một quốc gia Việt Nam, với mọi nỗ lực để dựng nên một thể chế, như đổ sông đổ biển.

Việc phủ nhận mọi giá trị luật pháp, được Quốc hội nhiều đời của Nhà nước Việt Nam xây dựng và được xác nhận bởi những người lãnh đạo cao nhất, chỉ qua một lần chọt mũi – nói theo kiểu dân gian – cũng có thể bị phế bỏ dễ dàng, để bảo vệ cho chuyện quan quyền, sai nha… để xông vào bẻ tay một phụ nữ, lôi ra khỏi nhà trước tiếng khóc thét của trẻ con, sự kinh hãi của dân cư. Nếu bỏ qua với hành động và tư duy của ông Võ Thanh Quan và bà Huỳnh Thị Thanh Phương, sớm muộn gì, cũng sẽ là tiền lệ đi đến hủy diệt mọi trật tự trên đất nước này.

Ai đã giới thiệu những người như vậy vào hệ thống cầm quyền? Và ai đã bầu cho họ? Tôi tin rằng chẳng có ai bầu cả. Những lá phiếu vô hồn được thúc hối ở các kỳ bầu cử tại Việt Nam, nay đã chỉ rõ bất cập của nó, và nhân dân đang phải chịu hậu quả trực tiếp.

Giờ thì khắp nơi, hệ thống truyền thông thuộc nhà nước đang đẩy mạnh hình ảnh ông Quan xin lỗi công khai nạn nhân là bà Hoàng Phương Lan. Nhưng việc “công khai” đó như thế nào? Mọi thứ diễn ra trong một căn phòng nhỏ khoảng 16m2, bà Lan ngồi cùng ông Quan và người hòa giải. Chung quanh thì lô nhô người phía chính quyền đang lăm lăm máy quay, máy chụp hình… chờ để bắt kịp hình ảnh vui vẻ, chân thành và tha thứ nhằm tuyên truyền. 

Rất thú vị, là ngay ở buổi đầu bà Lan đã từ chối hòa giải suông. Có lẽ bà hiểu, đằng sau bà là cư dân của khu chung cư Ehome4, của những học viên lớp dạy của bà đang điếng người trước khung cảnh, và của con bà, với niềm tin rằng bà đã bị xúc phạm như thế nào.

Cuộc thương lượng hòa giải rõ là không cân sức, khi người được hỏi có đồng ý với lời xin lỗi không, lại là người đang bị thu giữ căn cước công dân, bị buộc ký các biên bản vi phạm theo quan điểm của những kẻ hành động sai quấy, nhân danh chính quyền.

Nhưng quan trọng hơn, là bởi những bài báo mô tả đúng về tình cảnh của bà trên các trang báo nhà nước đang bị gỡ bỏ im lặng, cùng một hệ thống tay sai dư luận viên đang mở chiến dịch bôi nhọ bà về chuyện “ngoan cố”, “thiếu ý thức”, “bị cưỡng chế là đúng”… Hòa giải đang ở ý nghĩa nào trong bối cảnh u ám như vậy?

Không có gì mạt hạng hơn, khi mọi thứ giống như cả một “hệ thống chính trị” đang vào cuộc đế chống lại một người đàn bà. Mạt hạng tận cùng.

Bạn có đang tự hỏi với tôi không, rằng với những gì đang diễn ra, lời “xin lỗi công khai” đang được thực hiện bài bản ở Thuận An, Bình Dương, với bà Hoàng Phương Lan, có thật là sự chân thành nhận biết? Hay lại chỉ là thứ thủ đoạn thao túng dư luận, rập khuôn theo câu nói vô liêm sỉ của ông Mai Tiến Dũng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ: "Nếu ta sai, ta sẽ xin lỗi dân. Nếu dân sai thì dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật".


Sunday, September 19, 2021

Chuyện lư hương Đức Thánh Trần: Đi tìm sự chân thành

 


Nước Úc có một ngày lễ gây tranh cãi suốt nhiều thập niên, đó là ngày 26/1, tên gọi của ngày lễ này cũng được đặt lại với nhiều ý nghĩa khác nhau.

Khởi đầu, ngày này được gọi chung là ngày lễ Quốc Khánh của Úc, vì đó là ngày đánh dấu sự kiện năm 1788, thuyền trưởng Arthur Phillip đã dựng cờ Anh và tuyên bố đây là vùng đất thuộc sở hữu của đế quốc Anh ở Port Jackson (ngày nay là Sydney Cove).

Nhưng dĩ nhiên, đó cũng là một lời khẳng định về sự xâm lược của nước Anh đối với một vùng đất mà thổ dân Úc đã sinh sống từ bao đời. Những cuộc xung đột xảy ra, và khát vọng “giải phóng” của người Anh cũng đã mở ra một thảm cảnh về việc cách ly hàng ngàn trẻ em thổ dân với cha mẹ và làng quê, để giáo dục văn minh tách biệt, nhằm tạo một nước Úc có văn hóa nền của Châu Âu. Câu chuyện thật dài, đầy máu và nước mắt, là một góc của lịch sử nhân loại ở những thế kỷ trước.

Những cộng đồng thổ dân ở Úc phát triển và hội nhập vào cuộc sống chung hôm nay, kể cả người Úc da trắng, vẫn luôn chất vấn về ý nghĩa của ngày Quốc Khánh Úc 26/1. Ngày lễ 26/1 này từng được vận động gọi tên là Ngày Xâm Lược, Ngày Thương Khóc… Sai lầm từ lịch sử, vẫn luôn được người dân kêu đòi phải có sự nhìn nhận đúng, gọi tên đúng và phải có người hôm nay chịu trách nhiệm.

Ở một quốc gia văn minh, quyền được lên tiếng và thậm chí phủ nhận luôn cả ngày Quốc khánh, vẫn không bị coi là tội, cũng không ai bị khép vào cái nhìn là âm mưu lật đổ chế độ hay tuyên truyền chống nhà nước. Bởi một nhà nước văn minh đích thực và vì dân, họ biết rằng mọi hành động chủ trương bảo vệ mình, chống lại nhân dân, chỉ biến họ trở thành loại đồ tể với nhân quyền và dân chủ.

Tháng 2/2008, Thủ tướng Úc là Kevin Rudd đã chính thức đưa ra lời xin lỗi trước toàn quốc gia, gửi tới những người dân bản địa của Úc, đặc biệt là những thế hệ bị đánh cắp mà cuộc sống của họ đã bị tàn phá bởi các chính sách cưỡng bức trẻ em và đồng hóa bản địa trong quá khứ rất xa của nước này.

Lời xin lỗi của ông Kevin Rudd, được tạm dịch một phần như sau: ”Chúng tôi xin lỗi vì luật pháp và chính sách của các quốc hội và các đời chính phủ đã gây ra đau thương, đau khổ và mất mát sâu sắc cho những người Úc trên quê hương chúng ta. Chúng tôi đặc biệt xin lỗi vì đã loại bỏ trẻ em thổ dân và Cư dân trên eo biển Torres khỏi gia đình, cộng đồng và đất nước của họ”.

Rất nhiều bài báo, hình ảnh, video của cả thế giới ghi lại những giờ phút đó. Rất nhiều người đã khóc, nhiều người ôm chặt lấy nhau. Sự xúc động không chỉ vì nhân phẩm và giá trị nguyên bản của con người được nhìn nhận đúng trong thế giới văn minh và khát vọng hòa giải, mà họ còn khóc vì thấy mình may mắn sống trong một thể chế biết yêu tương lai của đất nước và con người hơn là gánh nặng của lý tưởng chính trị.

Câu chuyện cũ của xứ xa được viết lại dài dòng, chỉ để nhắc rằng bài báo tha thiết kêu gọi trả lại lư hương của của Đức Thánh Trần tại tượng đài ở Bến Bạch Đằng mới đây, được đăng trên báo Người Đô Thị, không phải là tiếng kêu đơn lẻ. Nó là sự đau đớn của cả một dân tộc về sự báng bổ một hình tượng vĩ đại trong lịch sử người Việt. Sự báng bổ chưa bao giờ xảy ra trong mọi triều đại Việt đối kháng nhau, mà xưa nay chỉ có thể nằm trong tưởng tượng về bọn ngoại bang xâm lược hay vong quốc.

Bài báo ấy có tên “Nhân giỗ Đức Thánh Trần: cần đặt lại lư hương và tôn tạo tượng đài Trần Hưng Đạo” của tác giả Phúc Tiến, xuất hiện trên trang nhà Người Đô Thị vào ngày 17-9-2021, được vài tiếng đồng hồ, đã bất ngờ bị ẩn đi. Đó là một bài viết thật sự hiếm hoi đặt vấn đề về một giá trị dân tộc tổn thương từ sự cường quyền, nhưng rồi cũng chịu chung số phận với mọi lời ngay thẳng trước lưỡi gươm kiểm duyệt, hoặc bởi sĩ diện của một cá nhân nào đó.

Nhưng với nhân dân, tiếng kêu phẫn uất về hình tượng trang nghiêm của một tượng đài lịch sử bị xúc phạm, vẫn không ngừng vang lên kể từ ngày 17-2-2019 – ngày mà mọi người Việt khắp nơi trên địa cầu đều sững sờ thấy những chiếc xe rác bao vây tượng đài Đức Thánh Trần, và xe cẩu kéo chiếc lư hương yên vị hơn nửa thế kỷ về một nơi ẩn khuất, lấy cớ là để sửa chữa và tôn tạo khu vực.

Cho tới giờ phút này, mọi sự giải thích của chính quyền về hành động cẩu lư hương của Đức Thánh Trần luôn mập mờ và vô nghĩa. Ông Nguyễn Thiện Nhân, bí thư thành phố, người chịu trách nhiệm chính về sự kiện này thì luôn né tránh. Còn bà Trần Kim Yến – bí thư Quận ủy quận 1 thì tuyên bố một cách vô đạo, vô luân thường rằng lư hương Trần Hưng Đạo được dời về đền thờ trên đường Võ Thị Sáu vì "Công viên không phải là nơi thờ phụng, mà việc thờ phụng này nên được đặt ở đình, đền, chùa sẽ đúng hơn. Đó là việc hết sức bình thường. Mình đưa việc thờ phụng về đúng vị trí".

Trong một bài viết phản ứng từ lúc ấy, có tên “Đỉnh lư hương và thói dối trá”, Giáo sư Hoàng Dũng đã viết rằng “Không lẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh thì được phép có lư hương (ở công viên), mà Đức Trần Hưng Đạo lại không?”. Dối trá là cách mỗi người Việt Nam gọi tên hành động và lý lẽ của những kẻ có quyền đã múa lưỡi, nhưng tận cùng, đó là sự vong bản nhục nhã khôn xiết trước tổ tiên mình.

Từ năm 2019, rộ lên tin đồn về chuyện chính quyền hiện nay muốn thủ tiêu các tượng đài, miếu đền… do chế độ cũ dựng nên, bởi muốn dứt điểm quá khứ. Chuyện dời lư hương và bỏ mặc như vậy, chỉ là nằm trong chuỗi hành động. Thật khó tin đó là chuyện có thật, nhất là với một chế độ trong thời đại văn minh.

Tổ tiên Việt Nam chưa bao giờ phân biệt đứa con nào thờ phụng mình. Trả lại lư hương, là cách chứng minh những lời đồn tồi tệ đó không có thật, và cũng để chứng minh rằng trong chế độ hôm nay, không có chuyện quyền lực cá nhân hay sĩ diện của một quan chức có thể ngồi xổm trên linh hồn tổ tiên, và của một cộng đồng dân cư đã sống với giá trị tâm linh đó suốt bao nhiêu năm nay.

Quả bóng đang ở chân những người có trách nhiệm hôm nay. Những sai lầm hôm qua, không có nghĩa là thứ nhất định hôm nay buộc mọi người phải cùng chia nhau vuốt mặt.

Những người da trắng và thổ dân ở nước Úc đã cho nhau cơ hội, cầm tay nhau để gọi tên quê hương là của chung, quốc gia chân thành sám hối trước sai lầm của hàng trăm năm, để cùng đi tới một giá trị chung.

Nhưng ở Việt Nam, nếu vẫn có những người vẫn im lặng trá ngụy, ôm chặt sự hủy diệt những điều thiêng liêng nhất trong lòng dân tộc, bất chấp tiếng kêu gào tức giận không thôi của dân chúng, thì tư cách nào để chúng ta gọi nhau là đồng bào?

Saturday, September 18, 2021

Đảng CSTQ muốn hủy diệt Triệu Vy, vì sao?


Lần đầu tiên, những lời nhận định và giải thích về việc nhà cầm quyền Bắc Kinh xóa sổ danh tính và giá trị của ngôi sao điện ảnh Triệu Vy xuất hiện. Tuy là nhiều góc nhìn khác nhau, nhưng từ đó, người ta hiểu được vì sao một chế độ lại thẳng tay hủy diệt hình ảnh tiêu biểu về văn hóa đương đại của mình như vậy.

Dĩ nhiên, đó là những bình luận được xuất hiện chính thức trên báo chí nhà nước về số phận của Triệu Vy. Tờ WSJ là một trong những nơi lùng sục, đi tìm lời giải hợp lý về câu chuyện này.

Người hâm mộ bên ngoài Trung Quốc ngạc nhiên đã đành, người trong nước còn sửng sốt hơn khi thì thầm với nhau là thử tìm cái tên Triệu Vy (Zhao Wei) trên các trang mạng ở Trung Quốc, nhưng tất cả đều là những khoảng trống. Bắc Kinh muốn trừng phạt ngôi sao điện ảnh này bằng cách thủ tiêu mọi ghi chép trong biên niên sử kỹ thuật số của quốc gia này về một đứa con tinh thần từng được cưng chiều hết mực.

Đúng vào năm ngôi sao điện ảnh này 45 tuổi, Triệu Vy bị xóa sạch trên trang web, cũng như các nơi phát video lớn nhất của quốc gia cộng sản này. Tin dữ dồn dập kéo về: các dự án của cô ấy, bao gồm cả bộ phim truyền hình cực kỳ nổi tiếng 'My Fair Princess', đã bị loại bỏ. Bất cứ ai tìm kiếm bộ phim nổi tiếng của cô ấy “So Young” trên Wikipedia của Trung Quốc, cũng sẽ không biết cô ấy là đạo diễn của phim này.

Phát súng lệnh cho cuộc trừng phạt này, bắt đầu từ ngày 26 Tháng 8, mở đầu cho một chiến dịch đàn áp rộng lớn hơn đối với ngành công nghiệp giải trí của Trung Quốc, mà Đảng Cộng sản nói là cố gắng ngăn chặn sự trỗi dậy của văn hóa không lành mạnh từ những người nổi tiếng. Nhưng không có viên chức nào giải thích cụ thể “không lành mạnh” ở trường hợp nào, và cụ thể ra sao. Bắc Kinh úp úp mở mở về sự thay đổi đột ngột này đối với địa vị của Triệu Vy.  

Dĩ nhiên, sự trừng phạt này làm dấy lên muôn vàn câu hỏi của người hâm mộ và giới quan sát và dẫn đến những đồn đoán rằng Triệu Vy đã làm sai điều gì đó – mặc dù không ai thật sự khẳng định được. Các trang blog và video tranh luận, bịa đặt các chuyện thâm cung bí sử… và thậm chí là những bài mạt sát Triệu Vy theo quan điểm của Đảng mọc lên, nhưng không bị tháo bỏ. Các lãnh đạo bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc muốn như vậy: sự hỗn loạn với những suy nghĩ tiêu cực về ai đó, giúp họ kiểm soát sự hỗn loạn một cách thuận lợi như một ông chủ nhà đầy quyền lực thao túng.

Stanley Rosen, giáo sư tại Đại học South California, chuyên gia về điện ảnh và chính trị Trung Quốc, cho biết: “Triệu Vy bị đẩy ra công luận như một đứa trẻ hư. Cô ta bị Đảng Cộng sản chọn làm biểu tượng của văn hóa sai trái trong giới nổi tiếng Trung Quốc”. 

Ông Stanley Rosen nói: “Đó là một minh chứng cho thấy không ai, dù giàu có hay nổi tiếng đến đâu, cũng có thể trở thành con mồi khi bị chọn”. 
Trong trường hợp của Triệu Vy, ông nói thêm, việc thiếu lời giải thích từ nhà cầm quyền, là một đòn thao túng xã hội, và nó có tác dụng khiến những người nổi tiếng khác hoảng hốt, và trở nên cực kỳ thận trọng, và chủ động trở thành người phục vụ cho các mục tiêu của chế độ, nhằm giảm thiểu các hiểm nguy của bản thân.

Thật dễ hiểu nếu ít lâu sau, đột ngột xuất hiện các loại nghệ sĩ hay người nổi tiếng ở Trung Quốc lên giọng bảo vệ đường chín đoạn của Trung Quốc vẽ ra ở Biển Đông, hay chính họ tự tố cáo lẫn nhau, đề cao quan điểm chính trị hay xã hội… để được giới chóp bu ngầm xác nhận, cho một chỗ quỳ trong đội ngũ nô bộc của Đảng.

Nhưng cái gi cũng có mặt trái của nó. Một làn sóng quan tâm mới của công chúng đối với tình trạng của Triệu Vy cũng bùng lên, khi gần đây ai đó chụp được ảnh Triệu Vy xuất hiện với quần đùi và áo thun màu tím ở quê nhà mình, Vu Hồ, ở miền đông Trung Quốc. Điều này cũng được đưa vào bình luận rằng, không biết Triệu Vy hay chính giới tuyên truyền nhà nước muốn thăm dò dư luận xem nữ diễn viên này còn sức hút với công chúng hay không.

Triệu Vy đã từ chối hàng loạt các yêu cầu bình luận về chuyện phim và chương trình truyền hình của mình không còn tìm thấy trên internet Trung Quốc. Cơ quan quản lý không gian mạng của Trung Quốc, cơ quan quản lý internet của quốc gia này, cũng không trả lời bất kỳ điều gì. 

Chiến dịch phong tỏa sự nghiệp của Triệu Vy, kéo theo những diễn viên khác bị cảnh sát Trung Quốc thẩm vấn về việc trốn thuế, bao gồm Trịnh Sảng (Zheng Shuang), và Trương Triết Hạn (Zhang Zhehan), một diễn viên trẻ trước đó đã bị tờ báo diều hâu hàng đầu của Đảng Cộng sản chỉ trích, sau khi phát hiện anh ghé thăm một ngôi đền thờ các tử sĩ Nhật Bản liên quan đến Thế chiến II. Rõ ràng, Bắc Kinh thấy các nghệ sĩ, nhân vật nổi tiếng của Trung Quốc hôm nay, không nằm trong các bang, hội… cần phải được kiểm soát và răn đe để không có một thế hệ mới có sức mạnh công chúng, và làm họ mất mặt như giới nghệ sĩ Hồng Kông, với Chuân Nhuận Phát, Hà Vận Thi…

Làm ra nhiều tiền của, còn trẻ và có lượng công chúng khổng lồ trên thế giới ủng hộ: ai biết được sự bất mãn hay kiêu ngạo sẽ khiến họ quay lưng với một Đảng cộng sản hà khắc? Vừa tạo ra một chiến dịch để răn đe, vừa bóp nắn túi tiền của giới giàu có này, chẳng phải là quá thuận lợi khi hô hào về sự khác biệt giàu nghèo ở Trung Quốc lúc này? 

Mọi thứ có vẻ còn kéo dài. Kiểm soát sự nổi tiếng cũng là một phương thức. Trong một chiến dịch chưa từng có, được phát động vào tháng 8, Đảng của Tập đã cấm các mục đưa bảng xếp hạng những người nổi tiếng trên các nền tảng truyền thông xã hội. Các đài truyền hình, radio và nền tảng phát trực tuyến được lệnh cấm các nghệ sĩ không đáp ứng các tiêu chuẩn chính trị hoặc đạo đức chính trị. Thậm chí, con cái của các ngôi sao nhạc pop bị đánh giá là mô phỏng, có hình ảnh hay phong cách như giới nghệ sĩ phương Tây cũng không được xuất hiện trong các chương trình giải trí. Nhiều nghệ sĩ Hàn Quốc và Nhật Bản, Đài Loan… cũng bắt đầu bị loại khỏi các mục trình chiếu hay giới thiệu… do có quá nhiều công chúng trẻ hâm mộ, khiến giới kiểm duyệt lo ngại về sở thích thiếu phẩm chất văn hóa nội địa.

Cũng có tin đồn từ giới tuyên truyền 5 xu, rằng Triệu Vy bị trừng phạt vì đang cặp kè với Trương Triết Hạn. Dù bị chỉ trích và không được tham gia nhiều chương trình, nhưng với quyền lực công nghệ giải trí rộng lớn của tỷ phú Triệu Vy, sẽ không có thiệt hại gì nếu họ Trương vẫn được đỡ đần. 

“Như Mã Vân (Jack Ma), đảng không thể bỏ tù vô cớ ông ta, nhưng làm nghèo đi, dồn vào đường cùng, Mã Vân thiệt hại thì Trung Nam Hải cũng khốn cùng”, một người bình luận tên JerryXin nói trên Weibo, và bình thêm “Triệu Vy cũng vậy, mất hình ảnh ở đại lục, chỉ là tạm thời, cả thế giới có đủ câu chuyện của cô ấy, và bất kỳ giờ nào, cô ấy cũng có thể trở thành công dân của một quốc gia khác”.

Rõ ràng là Bắc Kinh không thích có những ngã rẽ khác trong sức mạnh của họ. Nếu có Tôn Ngộ Không xuất hiện, họ muốn bàn tay của mình là Phật Tổ. “Đảng muốn sức mạnh của mình là tuyệt đối”, một người khác bình luận.

Một người ủng hộ Triệu Vy, có tên là Tough Pea Sprout viết: “Nhà nước biết rõ quan điểm chính trị và vị thế của cô ấy hơn bất kỳ cư dân mạng nào”. Tương tự như Jack Ma, dù chỉ là một diễn viên, nhưng hầu hết các sự kiện tầm quốc gia, Triệu Vy luôn là khách mời và là nhân vật đối thoại với cấp nguyên thủ. Một lời thì thào và nụ cười của Triệu Vy, đôi khi có sức mạnh bằng cả một công hàm của Bắc Kinh.

Đối với nhiều nhà quan sát, sự phế truất danh tính của Triệu Vy, gợi lại sự biến mất vào năm 2018 của siêu sao Phạm Băng Băng (Fan Bingbing) qua một vụ bê bối trốn thuế. Nữ diễn viên từng xuất hiện trong 'X-Men: Days of Future Past' vào năm 2014, đã biến mất khỏi công chúng trong ba tháng, trước khi tái xuất hiện, để đưa ra lời xin lỗi học thuộc lòng trước truyền hình, và nộp phạt 70 triệu USD.

Phần lớn tài sản của Triệu Vy đến từ số cổ phần mà cô và chồng đã mua trong chi nhánh công nghệ giải trí của Alibaba. Theo cơ sở dữ liệu đăng ký công ty của Trung Quốc, trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến năm 2020, Triệu Vy đã mua cổ phần thuộc Yunfeng Capital, một hệ thống tài chính do Jack Ma hậu thuẫn, cùng với một số doanh nhân Trung Quốc giàu có. 

Các bản đăng ký cũng ghi lại rằng công ty của Triệu Vy đã nắm giữ nhiều cổ phần của Ant Group, một tập đoàn tài chính-công nghệ khổng lồ do Jack Ma thành lập, đang trên đà tiến tới một đợt IPO kỷ lục (chào bán số cổ phiếu phát hành công khai lần đầu). Nhưng cú thăng tiến vĩ đại này của Ant Group đã bị loại bỏ theo lệnh của ông Tập vào năm ngoái. Alibaba, Ant Group và Jack Ma đã không bình luận, tương tự như Triệu Vy. 

Sau giai đoạn đẩy mạnh giới thượng lưu và tư bản đỏ phát triển, tạo thành một tiềm lực quan trọng cho xã hội cộng sản, giờ thì đến lúc Bắc Kinh bị rúng động vì thấy chính các tiềm lực ấy tự “diễn biến hòa bình”, ngày càng thích nghi với xu thế phát triển và tồn tại của mình theo kiểu tư bản, thậm có thể quay lại làm lung lay cả gốc rễ của thứ chủ nghĩa cộng sản đạo đức giả - vậy thì, cuộc cách mạng văn hóa lần hai, nhân danh mọi điều tốt đẹp là điều có thể hiểu được.

 

Sunday, September 5, 2021

Sau "giải phóng", giới nghệ sĩ Afghanistan lo âu chờ số phận của mình

 


Âm nhạc đã câm lặng sau khi tiếng súng của Taliban vang lên trên đường phố Kabul. Những gì được gầy dựng và nuôi dưỡng từ năm 2001, sau khi nền chính trị khủng bố này sụp đổ, giờ tiếp tục trở lại câm nín. Mỗi nghệ sĩ Afghanistan đều đang phập phồng về số phận của mình. Giữa những biến động trên khắp đất nước chưa hoàn toàn dứt, vẫn chưa rõ liệu chính quyền mới có cấm âm nhạc như cách đây 25 năm hay không.

Đã có tin những nghệ sĩ hài, ca sĩ… bị mang đi xử tử mà không qua tòa án nào. Họ bị kết tội là đã phục vụ cho chính quyền thân Mỹ, và sống với thứ văn hóa đồi trụy.

Các cánh cửa đã khép kín dọc theo Phố Kharabat, nơi từng được coi là trung tâm của đời sống âm nhạc Afghanistan. Từ giữa Tháng Tám, khi Taliban tràn vào Kabul, không ai bảo ai nhưng sự ẩn náu, ít bị để ý nhất đang là điều cần thiết với các nghệ sĩ. Ở những thùng rác tại Kabul, người ta nhìn thấy những đĩa nhạc hoặc sách vở dạy học nhạc được vứt trong đó.

Ở thành phố từng nhộn nhịp vui vẻ này, các nhạc sĩ đã mang nhạc cụ của họ về nhà, hoặc giấu chúng vào phòng, chờ xem liệu lực lượng “giải phóng” có làm lại cái điều không tưởng là cấm âm nhạc, như cách họ đã làm cách đây 25 năm hay không. Dẫu sợ hãi mũi súng và ánh mắt của Taliban, nhưng giới nghệ sĩ vẫn rón rén tụ tập trên con phố, là nơi sinh ra, quê hương và bảo tồn không chính thức cho nhiều thế hệ các ngôi sao ca nhạc của đất nước này.

Tụm năm, tụm ba…, họ xì xào thảo luận về những bức ảnh được chia sẻ bởi ca sĩ nổi tiếng Aryan Khan, về hình ảnh chiếc đàn piano bị đập phá trong chỗ làm việc của anh ta. Mới đây là vụ sát hại nhạc sĩ dân gian Fawad Andarabi tại nhà riêng ở vùng nông thôn. Nghe rằng Fawad Andarabi bị bắn vào đầu sau khi một toán lính Taliban vào nhà, và bắt anh ta hát cho họ nghe. Giới nghệ sĩ Afghanistan đang tự hỏi, liệu ai trong họ sẽ là người tiếp theo.

“Chúng tôi đã xem ảnh trên mạng. Rồi ai đó sẽ gặp phải vấn đề tương tự, nếu không phải hôm nay thì ngày mai thôi”, Zabir, người chơi rubab, một loại đàn dây cổ truyền của Afghanistan cho biết. “Taliban vẫn chưa hoàn thành công việc thành lập một chính phủ mới, nhưng sau đó tôi biết chắc là họ sẽ nhắm mục tiêu vào âm nhạc”.

Zabir đã chờ ba ngày ở cổng sân bay vào tháng trước, trong sự cố gắng tuyệt vọng để mong có chỗ trong chuyến bay rời Afghanistan đến bất cứ đâu. “Âm nhạc nuôi sống tâm hồn bạn. Tôi không muốn sống ở đây nữa nếu không có nó”.

Cách đây 25 năm, khi đường phố đã trở nên hoang tàn bởi cuộc nội chiến, Taliban chính là lý do khiến các ca sĩ, tay trống và nghệ sĩ chơi nhạc cụ của họ đi lưu vong. Nhưng sau khi lực lượng khủng bố cầm quyền bị lật đổ vào năm 2001, các nghệ sĩ đã dần quay trở lại. 20 năm qua, cư dân Kabul, những người muốn nhạc sĩ mang lại niềm vui cho đám cưới, hoặc làm sôi động một bữa tiệc, đã tìm đến đây để mời các ban nhạc. Không những vậy, Kabul đã từng là nơi có các hội thảo lớn, nghiên cứu về nhạc cụ và phong cách âm nhạc. Giờ đây, những cánh cửa trên đường phố nghệ thuật này đang trước nguy cơ có thể phải đóng cửa vĩnh viễn.

Taliban vẫn còn nguyên hình là một đạo quân cưỡng chiếm, và dù lắm lời nhân nghĩa về thống nhất đất nước, hòa hợp dân tộc… nhưng các thông điệp mà các chỉ huy của họ gửi ra thì bất nhất. Ở phía bên kia thị trấn từ Phố Kharabat, Viện Âm nhạc Quốc gia Afghanistan (ANIM) chắc chắn sẽ là mục tiêu sớm và rõ ràng cho kẻ cầm súng bắn vào những nhạc cụ. Taliban có một quyết tâm rất rõ: Không chỉ ngừng phát nhạc mà còn phá hủy mọi khả năng chơi nhạc.

Tuy nhiên, để được nhìn nhận với thế giới, tạm thời âm nhạc, nghệ thuật đang được ‘bảo vệ’ bởi một lực lượng nghiêm ngặt của Taliban, với các biểu ngữ nhắc nhở các chiến binh của phong trào này rằng không có gì được để hư hại hoặc phá hủy. “Tôi lo lắng về sự an toàn của các nghệ sĩ và giảng viên trẻ của tôi, lo lắng về giáo dục âm nhạc và nền âm nhạc ở Afghanistan, nhưng đồng thời tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì tạm thời, chưa có gì lớn xảy ra chống lại trường âm nhạc và cộng đồng của nó cho đến bây giờ,” Giám đốc của Viện ANIM, ông Ahmad Sarmast, nói với The Observer. “Tôi hy vọng chúng ta sẽ không quay lại thời kỳ của 25 năm trước”.

“Họ bảo đảm với tôi rằng cơ sở hạ tầng, đồ đạc của ANIM được bảo vệ, và sẽ được bảo vệ cho đến khi có quyết định về tương lai của âm nhạc ở Afghanistan,” ông Ahmad nói. “Chúng tôi đang chờ đợi khi quyết định được đưa ra, về việc liệu âm nhạc có được phép hoạt động hay không”.

Sự tàn phá, và giết hại các nhạc sĩ đã diễn ra, nhưng được coi là ngẫu nhiên và không có tính hệ thống. Các lệnh cấm âm nhạc đã được báo cáo được thấy ở miền Nam Zabul và tỉnh Kandahar, vùng trung tâm của Taliban, nhưng đây có thể là quyết định của các chỉ huy địa phương.

Ban lãnh đạo trung ương thì khôn khéo hơn, tỏ ra mập mờ trong các tuyên bố trước công chúng và trong các bình luận về trường âm nhạc hàng đầu của đất nước. Người phát ngôn Zabihullah Mujahid của Taliban nói với tờ The Guardian rằng đạo Hồi cấm âm nhạc nơi công cộng, nhưng “chúng tôi hy vọng rằng chúng tôi có thể thuyết phục mọi người không làm những điều như vậy, thay vì gây áp lực cho họ”.

Số phận của những vùng đất bị cưỡng chiếm, thường sẽ phải chịu những áp lực chính trị và tính thể hiện quyền lực từ kẻ ‘thắng cuộc’ nhiều hơn là sự quan tâm thật sự về giá trị quốc gia, dân tộc. Và hiện nay người ta hình dung rằng nhiều nghệ sĩ ở Afghanistan sẽ sớm phải lặng lẽ lưu vong. Bởi khi quê hương không còn linh hồn, họ ở lại để làm gì?