Tuesday, February 16, 2021

Chuyện xưa, chuyện nay

 


 

Trong phim Forbidden Dream (2019), được các nhà làm phim ghi rõ là kể lại từ câu chuyện lịch sử có thật,  đã mô tả triều đại Joseon của Đại Hàn xoay sở khổ nhục ra sao, để phát triển các ngành khoa học trước sự theo dõi của nhà Minh (Trung Hoa). Câu chuyện xoay quanh chi tiết vua tôi của Cao Ly ngày ấy (thế kỷ 15) bí mật cố gắng tìm ra múi giờ riêng của quốc gia, không muốn bị ép buộc sống theo giờ quy định tập quyền của phương Bắc. Những nỗ lực đầu tiên ấy, bị coi là phản nghịch, sách vở thiên văn bị đốt bỏ, các nhà khoa học bị luận tội, các trụ định hướng sao trên trời bị kéo sập trong sự giám sát của sứ giả Trung Hoa.

 

Cũng cùng thời gian ấy, tại Việt Nam, cuộc hủy diệt văn hóa thư tịch của người Việt cũng bị nhà Minh áp đặt lên nhà Lê. Theo Đại Việt sử ký, năm Vĩnh Lạc thứ 16 thời Minh (1418), vua nhà Minh nhiều lần chính thức cử học sĩ sang An Nam để vừa tịch thu, vừa hủy diệt, mục đích là không để người Việt phát triển văn hóa riêng, ghìm chặt việc thiếu ý thức tự chủ để không thể lớn mạnh. Căn cứ vào các chiếu dụ từ năm Vĩnh Lạc thứ 4 đến thứ 5 được chép trong Việt kiệu thư thì có khá nhiều lần đề cập đến việc hủy diệt văn hóa phương Nam, trong đó có một đạo sắc cho Trương Phụ đề ngày 21 tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ 5: “Trước đây (trẫm) từng nhiều lần chỉ dụ cho các khanh rằng phàm là văn tự sách vở của An Nam, từ những loại sách học vỡ lòng quê mùa vụn vặt như Thượng đại quan nhân, Khâu Ất Kỉ cho đến các loại bia khắc do họ tự lập hễ trông thấy là phá huỷ ngay lập tức, không được để lại. Nay trẫm nghe nói trong quân khi thu được văn tự sách vở đã không ra lệnh cho quân lính thiêu hủy ngay lập tức, mà để lại đọc qua sau đó mới đốt. Quân lính nhiều người không biết chữ, nếu duy trì lệnh đó tất sẽ để lại nhiều thiếu sót. Nay các ngươi phải nên thực thi theo sắc trước, ra lệnh trong quân hễ gặp bất cứ vật gì có văn tự thì lập tức thiêu huỷ ngay, không được lưu lại”. (Tạp chí Văn hiến số 2, năm 2003)

 

Đọc lại lịch sử xưa, đối chiếu, mới thấy Trung Hoa ngàn năm trước và hiện tại không có gì khác biệt, mặc dù vỏ bọc lúc là phong kiến, lúc là cộng sản, nhưng căn cơ vẫn là độc tài và mê cuồng bá quyền, sẵn sàng chà đạp bất kỳ ai ngăn cản tham vọng của họ.

 

Chính sách viễn giao cận công của Trung Hoa, có từ năm 230 trước Công nguyên, được nhà Tần áp dụng, cho đến nay vẫn là một trong những mạch chính của nhà nước Trung Hoa cộng sản, chỉ có khác là sự linh hoạt uyển chuyển hơn, lúc đánh, lúc đàm, lúc đấm, lúc xoa. Chính vì sự giảo hoạt vậy, Trung Hoa không thể có bạn. Họ chỉ có giả làm bạn và thâu tóm, để biến bạn thành thủ hạ, tay sai hoặc để thao túng.

 

Bạn hay thù chỉ như trở bàn tay. Đó là lý do năm 1979, ngày 17-2, Bắc Kinh huy động một lực lượng lớn quân, hơn cả tổng số quân đồng minh tương trợ của Việt Nam Cộng Hòa, để tấn công các tỉnh phía Bắc Việt Nam, tàn phá, đốt, giết… Hình ảnh của những cuộc xâm lược từ ngàn năm trước hiện lại mồn một. Tên gọi của cuộc chiến huynh đệ cộng sản tương tàn đó, được Đặng Tiểu Bình, nhà lãnh đạo tối cao của Trung Quốc khẳng định “dạy cho Việt Nam một bài học”.

 

Bài học đó là gì? Là Hà Nội sẽ bị tấn công tàn khốc, nhưng không hề có được sự can thiệp nào của đàn anh cộng sản Liên Xô. Khó chịu vì đàn em Khmer bị Việt Nam đánh đuổi, và khó chịu Việt Nam có vẻ nghiêng về Liên Xô hơn trong thời điểm đó. Và dù tất cả đều là những người bạn của mặt trận vô sản, nhưng không cần làm bạn nữa thì Bắc Kinh sẽ ra tay tức thì.

 

Nhưng câu nói “dạy cho Việt Nam một bài học” quả thật sự đau đớn, vì hai đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam lại dùng đất nước và con người Việt Nam làm nơi để diệu võ dương oai với nhau, chứ không hề có máu xương người già, em bé, thanh niên Việt Nam nào liên quan đến cái bài học xung đột tình thân anh em cộng sản ấy cả.

 

Lịch sử đã qua, không chỉ để nhớ, mà còn để học biết đủ về nó. Ngày 17/2 hàng năm, người Việt vẫn nhắc nhau về ký ức đau thương và kinh hoàng, gây ra bởi một đế quốc hung tàn nằm cạnh đường biên giới. Nhưng hôm nay, lịch sử còn là lý do để mọi người nhìn kỹ hơn những gì đang đến, chuẩn bị cho những thảm kịch đang đến.

 

Những xung đột mới, có thể không đến từ đất liền, mà từ biển, đặc biệt từ ngày 1/2/2021, khi Luật Hải Cảnh của Trung Quốc có hiệu lực. Mơ hồ và bao trùm, luật này có 84 điều và 11 chương, cho phép các tàu hải cảnh Trung Quốc có quyền bắn, truy đuổi, bắt giữ… tất cả những tàu thuyền bị coi là vi phạm phía trong và trên vùng biển nằm trong quyền tài phán của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Nhưng cụ thể các nơi như vậy thì không được liệt kê. Hay nói cách khác, Bắc Kinh đang hợp pháp hóa chủ quyền đường chín đoạn của họ bằng vũ lực.

 

Cách nói mơ hồ này cũng đang gán cho việc cảnh sát biển Trung Quốc có quyền hạn kiểm soát cả ADIZ (vùng nhận dạng phòng không trên biển). Hơn nữa điều 12 của luật này còn tự cho phép các tàu hải cảnh có thể kiểm soát và ngăn chận các vụ đánh bắt, thu hoạch hải sản. Đây quả là cơn ác mộng của ngư dân Việt Nam, vì từ suốt nhiều thập niên qua, số tàu bị đâm, bị bắt và người chết vì các lực lượng từ nước Trung Quốc anh em trên biển Đông, dẫn đầu vẫn là ngư dân Việt.

 

Mọi thứ trong tương lai thật khó đoán, khi hai đảng cộng sản vẫn được gọi là hữu nghị bền chặt, nhưng có nhiều dấu hiệu rạn nứt gần đây – theo giới bình luận thời sự. Vẫn không biết được liệu có bài học nào lại được Bắc Kinh tung ra trên biển để dạy dỗ Hà Nội trong thời gian tới hay không?

 

Mà quả thật, không thể đoán, hay hiểu nổi, khi cuộc chiến 1979 kết thúc, sách giáo khoa Trung Quốc dạy rằng họ đã chiến thắng. Văn chương, kịch nghệ… của Trung Quốc được nhắc đến những chuyện này, nhưng ở Việt Nam, nơi thật sự đã đẩy lùi được cuộc xâm lược, thì chỉ có chút ít thông tin nơi sách giáo khoa, âm nhạc, hội họa… đề cập đến cuộc chiến tranh chống xâm lược của người dân Việt Nam, luôn bị cắt gọt kỹ lưỡng hay từ chối. Đến nay thì gần như xóa trắng.

 

Đặng Tiểu Bình, người chịu trách nhiệm hai cuộc xâm lăng đẫm máu 1979 và 1988 (Gạc Ma) thì được chính thức dịch sách, ca ngợi “Một trí tuệ siêu việt”, và lại còn tái bản. Còn tác phẩm Gạc Ma, Vòng tròn bất tử, nói về đảo bị cướp, về những người lính Việt Nam chết tức tưởi, thi hài không mang được về quê nhà, thì bị cắt, đình trệ, hơn mười năm chờ đợi rồi được phát hành, nhưng thu hồi ngay sau đó.

 

Mới đây, trả lời tờ Korea Joongang Daily (20-12-2019), nói về việc tham gia thực hiện cuốn phim Forbidden Dream, diễn viên Choi Min-sik nói rằng với nền lịch sử 500 năm được ghi chép của nước Đại Hàn xưa, ông khao khát mình được thể hiện những câu chuyện, những gương mặt của quá khứ cho khán giả hôm nay. Đạo diễn Hur Jin-ho cũng có lần nói trên Yonhap News Angency rằng ông bước qua những đề tài thương mại mà muốn nối dài câu chuyện lịch sử, vì nghĩ rằng thế hệ mới cần có chúng hơn là ông cần tiền.

 

Chạnh lòng tự nghĩ. Có lẽ người Việt Nam không thiếu những người khao khát được sống, hành động và nối dài sự thật lịch sử, muốn không để cho máu xương cha ông bị đau tủi ở chốn vô danh. Nhưng điều đơn giản đó, không chỉ có lòng yêu nước là có thể làm được, hôm nay.

 

Thursday, February 4, 2021

Đi tìm bóng Phượng Hoàng cuối cùng


Cuộc nói chuyện với anh Nguyễn Trung Vinh, tay trống của ban nhạc Phượng Hoàng, đã giúp xác định thêm vài chi tiết rất đáng quý cho lịch sử nhạc trẻ Việt Nam trước năm 1975.

Chủ trương chơi nhạc trẻ Việt hóa là khởi động từ suy nghĩ của nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang và sau đó bắt gặp một người sáng tác đồng điệu với khuynh hướng đó, là Lê Hựu Hà. Những buổi tập đầu tiên của ban Phượng Hoàng đã diễn ra tại nhà của nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang tại đường Trương Minh Giảng, nay là đường Lê Văn Sỹ, quận 3, Đô thành Saigon.

Cần một tay chơi trống có đủ chất nhạc trẻ, Nguyễn Trung Cang đi tìm Nguyễn Trung Vinh để mời vào chơi với ban nhạc. Lúc đó dù đang đánh trống kiếm sống ở nhà hàng Arc En Ciel (quận 5) nhưng Nguyễn Trung Vinh quyết định tham gia vì quá thích kiểu chơi mới này.

Dù Nguyễn Trung Cang và Nguyễn Trung Vinh có cùng họ và tên đệm, khiến cho nhiều người nghĩ đó là hai anh em, nhưng thực ra, họ hoàn toàn không có họ hàng gì cả.

Ban nhạc Phượng Hoàng tập với nhau trong vòng vài tuần, thử qua nhiều ca sĩ nhưng đều không thích hợp (bạn bè cùng trường cho đến Thanh Lan, Duy Quang...) nhưng chưa có ai đủ lực để thể hiện những bài hát của Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang. Chính Nguyễn Trung Vinh là người giới thiệu ca sĩ Elvis Phương để tập thử (cả hai quen biết nhau vì đều học chung trường Lasan Taberb). Ngay từ lần ráp với nhau đầu tiên, tất cả mọi người đều cùng xác nhận rằng Elvis Phương chính là mảnh ghép cuối cùng cho Phượng Hoàng cất cánh.

Bài hát đầu tiên mà nhóm Phượng Hoàng bắt đầu tập với nhau để trình diễn, là bài Tôi Muốn của nhạc sĩ Lê Hựu Hà. Điều này lại càng khẳng định rõ hơn ý chí quyết tâm đi con đường nhạc trẻ Việt hóa của nhóm Phượng Hoàng, chứ không như nhiều ban nhạc ở Sài Gòn lúc đó thường phải pha trộn những bài hát của Mỹ và Pháp trong chương trình biểu diễn của mình. Việc chọn bài hát của Lê Hựu Hà là bài đầu tiên để tập, cũng cho thấy tính cách rất đàn anh của Nguyễn Trung Cang.

Chi tiết cuối cùng cho thấy, những thành viên trong ban nhạc Phượng Hoàng sau năm 1975 phần lớn đều rơi vào nghèo khổ, bế tắc con đường sáng tác và biểu diễn bởi xã hội mới và chế độ kiểm duyệt. 

Với nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang, theo lời của người mẹ kể lại, thì đã bệnh mà chết do một điều đơn giản là anh bị cảm nặng, mà ở nhà không còn đồng nào để mua thuốc.

Nhạc sĩ Lê Hựu Hà thì càng về sau, càng bị trầm uất nặng với thời thế và cuộc đời riêng. Anh trở về nhà vào một tối khuya và chết lặng lẽ, đến mấy ngày sau mới có người biết đến.

Nhạc sĩ Nguyễn Trung Vinh sau khi đi học tập về (vì là lính nhảy dù VNCH) thì kể từ đó lang thang rày đây mai đó, không biết làm gì để sống. Có giai đoạn anh được nhạc sĩ Mặc Thế Nhân cưu mang và suýt nữa đã đi tu. Ở tuổi 45, khi có gia đình lần 2, ông thử làm qua nhiều nghề nhưng thất bại, bao gồm cả đi bán vé số và lơ ngơ bị gạt tiền, lỗ vốn. Cho đến hôm nay, trên 70 tuổi ông và vợ vẫn ở căn phòng chưa đến 16m2 thuê tại Lái Thiêu, với sự tương trợ của xóm giềng. Điều thú vị là người vợ hiện nay của Nguyễn Trung Vinh cũng là quân nhân VNCH, trước đây bà làm thư ký tại Bộ Tổng Tham mưu.


-------
Ghé đến thăm sau chuyến của nhà thơ Lý Đợi, gởi ít quà để cho vợ chồng anh Nguyễn Trung Vinh ăn Tết Tân Sửu, nhưng khi tận mắt chứng kiến mới thấy, tất cả chỉ là muối bỏ biển với một đời người đã quá đỗi nhọc nhằn.

Vì vậy sau bài viết này, nếu quý anh chị nào có lòng tương trợ xin nhắn tin riêng để lấy cách liên lạc, nhằm quý vị có thể tận tay giúp đỡ. Trên những bức ảnh để trên FB, chỉ có thể thấy nụ cười tượng hình của đôi vợ chồng già đang đùm bọc đi về ngày tháng tận, nhưng nếu có dịp đến tận nơi các anh chị sẽ thấy được những giọt nước mắt vui mừng đầy cảm động của những người Saigon năm tháng cũ.

* đánh dấu trong ảnh cũ, là nhạc sĩ Nguyễn Trung Vinh thời trẻ, lúc ấy ông 31 tuổi.

Saturday, January 16, 2021

Trần Huỳnh Duy Thức và cột mốc 50 ngày tuyệt thực

Những tin tức về Trần Huỳnh Duy Thức và cuộc tuyệt thực của ông đang rất lẫn lộn. Nhưng điều quan trọng nhất, cho thấy là việc đòi hỏi xét lại án tù dài hạn vô lý của ông Thức đưa ra, là một ca khó cho những người cầm quyền tạm ở Hà Nội lúc này: Không ai muốn chịu trách nhiệm để giải quyết, và bên cạnh đó, vẫn có thể Thức là một lá bài quan trọng để thương thảo với bên ngoài cho phía nhà cầm quyền, vốn sau đại hội 13 sẽ phải đối phó rất nhiều thứ.

Ông Thức có vẻ tạo được những sự “ủng hộ” nào đó từ phía trại giam Nghệ An, nơi những người quản lý trại ở đây nói với ông Thức lẫn cả gia đình, rằng họ ủng hộ một cách hoàn toàn việc đòi hỏi công lý cho bản án của ông Thức, kể cả khi ông Thức khởi động chương trình tuyệt thực của mình.

Thế nhưng, sau 48 ngày, kể từ khi có nguồn tin cho biết ông Thức có thể đã rơi vào trạng thái hôn mê, chi phí quản lý trại giam đã đưa ông Thức đi cấp cứu ở bệnh viện Ba Lan, trong tỉnh.

Thông tin về việc cán bộ trại giam Nghệ An “ủng hộ” ông Thức đòi công lý có cái gì đó hơi khác thường. bà Yến, chị của ông Thức cho biết rằng cán bộ của trại nói họ cũng sẽ đồng hành với ông Thức trong việc chuyển những đơn yêu cầu tái xét bản án đến những nơi cần thiết. Thế nhưng trong suốt hơn một tháng ông Thức tuyệt thực, dường như đã không có thông tin nào cụ thể và thiết thực cho biết rằng đường đi của những lá đơn đó đến đâu, và được phản hồi như thế nào.

“Trong trường hợp  thật sự có “đồng hành”, người ta sẽ đề nghị một cán bộ cấp cao nào đó đến để nói chuyện với ông Trần Huỳnh Duy Thức  Trì, nhằm tạm ngăn chận cuộc tuyệt thực kéo dài sẽ gây ảnh hưởng không tốt, vì bất kỳ ai cũng biết rằng trong thời điểm trước đại hội đảng, sẽ gần không thể có một quyết định nào mang tính tích cực dành cho ông Thức. Đồng hành với hiện trạng diễn ra, có thể coi là một cách khuyến khích ông Thức hủy hoại bản thân mình mà không có lối thoát”, Một cán bộ về hưu giấu tên bình luận như vậy.

Vào ngày tuyệt thức thứ 48, (10/1/2020) - tức sau một ngày gia đình của ông Thức quyết định đến Nghệ An, Trại giam số 6, Thanh Chương, nhất quyết đòi gặp mặt ông Thức để biết tính mạng sống còn của ông như thế nào – tin tức từ trong trại bí mật lọt ra cho biết ông Thức rơi vào trạng thái có thể là hôn mê và được điều trị cấp cứu ở bệnh viện Ba Lan. Và ngay cả những người cán bộ ở trại giam này, khi tuyên bố “đồng hành” với ông Thức cũng giấu nhẹm tin tức này.

Gia đình của ông Thức hoàn toàn không biết gì về chuyện này. Tuy nhiên, nguồn tin riêng của các tòa sứ ngoại quốc tại Việt Nam thì khác. Ngày thứ 49, tòa đại sứ Đức ở Việt Nam đã liên lạc với cấp ngoại giao của Việt Nam, và yêu cầu được biết về tình hình ông Thức ra sao. Thế nhưng câu trả lời là mọi thứ vẫn ổn. Ngay sau đó, tòa đại sứ quán Mỹ ở Việt Nam đã liên lạc với gia đình ông Thức tại Sài Gòn và xác nhận rằng ông Thức được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện ngoài trại giam.     

Trên trang facebook có tên Trần Huỳnh Duy Thức, có phát đi dòng thông cáo, sau đó:

“Trong chiều ngày 13/01/2021, gia đình nhận được tin từ Đại sứ quán Mỹ cung cấp thì anh Trần Huỳnh Duy Thức thật sự đã được đưa đến bệnh viện, ngoài ra họ không có thêm bất kỳ thông tin nào khác.

Gia đình (của ông Trần Huỳnh Duy Thức) đang vô cùng bối rối và lo lắng trước tình hình này. Tính đến ngày hôm nay chúng tôi vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào từ phía Trại giam 6 về Đơn yêu cầu cung cấp thông tin chúng tôi đã gửi gấp vào ngày 11/01/2021. Chúng tôi cần các cơ quan chức năng Việt Nam thực hiện trách nhiệm của mình và trả lời chúng tôi về tình trạng hiện tại của anh Trần Huỳnh Duy Thức!”.

Được biết, trong những ngày ông Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực, mỗi ngày ông phải ký vào một phiếu xác nhận ông đã không nhận khẩu phần thức ăn của trại. Từ sau một tuần tuyệt thực, ông Thức được bác sĩ của trại giam theo dõi mỗi ngày về huyết áp và tim. Vào ngày tuyệt thực thứ 25 và 42, ông Thức có ngất đi, té nhưng may mắn là không nguy hiểm. Theo gia đình cho biết, ông đã sụt 9kg kể từ khi tuyệt thực và đường huyết thường xuyên ở mức 1.8.

Nhiều phóng viên ở nước ngoài cũng như giới truyền thông tự do trong nước gọi điện thoại đến bệnh viên Ba Lan, thành phố Vinh để thăm hỏi, thì lại bị diễu cợt bởi người nhận máy “biết rồi, bệnh nhân của anh là bệnh nhân Trí Thức, hiện đang nằm ở Trại 6. Ừ, Duy Thức chứ không phải là Duy Ngủ”. Phía trả lời của bệnh viện cũng phủ nhận ông Thức có nhập cấp cứu, nhưng họ trả lời rất rành mạch về nhân thân ông Thức.

Dĩ nhiên, nếu không nhận được hướng dẫn từ Trại giam số 6, ở bệnh viện không thể trả lời suông sẻ và nhanh chóng như vậy.

Theo mô tả của một người có kinh nghiệm về trại giam, xin giấu tên, cho biết, Nếu trong tình hình khẩn cấp thì trại giam sẽ lợi dụng lúc người tuyệt thực vào hôn mê, sẽ đưa đi bệnh viện để vào nước biển và đạm. Thậm chí có thể là chích cả thuốc ngủ để có thể kéo dài việc tạm nuôi sống người tuyệt thực. Đặc biệt là vào thời điểm trước đại hội Đảng lần thứ 13, trại giam sẽ không dám để cho ông Thức chết.

Nhưng dù như thế nào, tính đến ngày 15/1/2020, khi chưa hề có bất kỳ một lời tuyên bố ngưng tuyệt thực nào của ông Trần Huỳnh Duy Thức, điều đó cũng đồng nghĩa rằng cuộc tuyệt thực của ông đã kéo dài đến ngày số 53. Điều đáng nói, lợi dụng việc ngăn cách do dịch covid-19  trại giam số 6 Nghệ An đã vẫn đang giấu nhẹm không cho người nhà của ông Trần Huỳnh Duy Thức  được biết thật sự sức khỏe của ông lúc này như thế nào. Quả là một cuộc “đồng hành” đáng nhớ.

Mỗi ngày trôi qua, khi chưa có bất kỳ một lời tuyên bố ngừng tuyệt thực nào của ông Trần Huỳnh Duy Thức, điều đó có nghĩa là cột mốc lịch sử của cuộc chiến đấu bằng mạng sống của ông, vẫn đang được cộng thêm từng ngày.

Lịch sử của những cuộc tuyệt thực với kết cục đau đớn được ghi nhận trong lịch sử, có tù nhân chính trị Wilmar Villar, 31 tuổi, 2012 tại bệnh viện Santiago (Cuba) sau 50 ngày tuyệt thực. Xa hơn, có nhân vật chính trị người Ireland, nghị viên Bobby Sands, dẫn đầu Một cuộc tuyệt thực tập thể, và qua đời ở ngày thứ 66.

Sunday, January 10, 2021

Hy vọng, và dấn tới

Vậy rồi, một chút gì đó về hai nhạc sĩ nhạc trẻ tiền phong Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang cũng đã được tập hợp lại, ra mắt trong đầu năm 2021. Cầm sách trên tay mà thật cảm động.

Dự án này, 3 năm trước đã được nhà thơ Lý Đợi đi mời chào với nhiều người. Trong suốt những năm tháng tạm dừng giới thiệu thơ của mình với công chúng, Lý Đợi lặng lẽ tự dựng nên một chuỗi ấn bản của mình về con người và văn hóa riêng của Sài Gòn. Tất cả những gì tản mát và có thể rơi rớt đâu đó, được tập hợp lại, in đẹp, trang trọng ra mắt chờ người đồng cảm với mình.

Lần đầu tiên, khi được rủ rê nhập cuộc với cuốn sách này, tôi đã ngần ngại "được không, với cái cách kiểm duyệt của chế độ này?". Lúc đó, Lý Đợi không dám chắc bất kỳ điều gì, nhưng bản tính lì lợm của một tay Quảng Nam, hắn cứ thúc "cứ làm, cứ dấn từng bước thôi anh".

Ngày cuốn sách ra đời, Lý Đợi gọi và nói với giọng vui mừng rằng "phần viết của anh, chỉ sửa cách gọi, đúng có một chữ". 

Tôi nhớ, hình như đó là chữ 'Cộng sản', được đổi thành chữ 'miền Bắc'. 

Cuộc trường chinh cắt gọt linh hồn chữ nghĩa chưa bao giờ thôi ám ảnh giới văn nghệ Việt Nam, sau nhiều thập niên. Nó không chỉ ám ảnh với người sáng tạo mà với cả một thể chế. Sau 45 năm chơi trò cút bắt, thậm chí là hình sự đối với âm nhạc miền Nam, lệnh tha bổng tương đối đã được ban hành cho bất kỳ ai muốn ca hát và biểu diễn - như một cách để giới kiểm duyệt tạm chấm dứt cuộc săn đuổi đầy mệt mỏi và vô nghĩa của mình sau bấy nhiều năm. Dù phải sửa một tên gọi trong toàn bộ bài viết thôi, ấy cũng có thể coi là một bước tiến vĩ đại của tư duy kiểm duyệt đã từng.

Lý Đợi nói đúng, dù như thế nào chúng ta vẫn phải dấn tới. Dù ngột ngạt hay trói buộc thế nào thì kẻ được gọi là trí thức vẫn phải dấn tới về phía tương lai và tự do của mình. Ấn bản Phượng Hoàng cầm trên tay nhắc tôi không biết bao nhiêu điều. Tôi nhớ nụ cười buồn bã của anh Lê Hựu Hà khi nghe những bài hát của anh không được cho phép trình diễn hay phát hành. Nhớ cả tiếng thở dài của nhạc sĩ Thanh Sơn, Trần Quang Lộc, Mặc Thế Nhân... khi phải vật lộn để bảo vệ từng ca từ, nhớ sự tổn thương của họ khi phải chứng minh mình là một nghệ sĩ "trong sạch" trong mắt nhìn của cơ quan kiểm duyệt.

Tôi nhớ cả u ám phần mình. Bài hát Dối Trá có ca từ mô tả nhân vật là "người", bị báo cáo mật từ Sở văn hóa gửi về Cục biểu diễn xin lệnh cấm hoạt động văn nghệ suốt đời, vì cho rằng chữ "người" ấy, là một âm mưu xúc phạm, ám chỉ ông Hồ Chí Minh.

Thật may mắn, vì tôi đã chứng kiến được những ngày tháng khắc nghiệt nhất, và những giờ phút những trói buộc đó lơi dần, thậm chí chứng kiến ngôn luận từ  hệ thống đó còn tự trách, vì đã quá khắt khe trong suốt một thời gian dài. 

Chỉ tiếc là những người của thế hệ mà tôi biết, họ đã không được tận hưởng đủ những giờ phút như thế này. 

Tôi nhớ vào những ngày tháng cam go nhất, vào những lúc có những luật lệ bất thành văn từ các quan lại văn hóa "một album 10 bài hát, chỉ được sử dụng tối đa 3 bài hát của các tác giả của chế độ cũ", những nhạc sĩ ấy vẫn miệt mài viết, vẫn hát - dù có thể không được duyệt - nhưng họ vẫn tin rằng một ngày nào đó mọi thứ sẽ phải thay đổi, và âm nhạc thật sự sẽ lại lên tiếng.

Cuộc sống chỉ có thể tốt hơn, chứ chẳng bao giờ có chuyện tốt nhất. Nhưng sẽ chẳng bao giờ có sự tốt hơn nào, nếu từ chối hy vọng và dấn tới, chấp nhận cam chịu.

Cũng vì suy nghĩ này, năm 2007, tôi đã quyết định phủ nhận tất cả mọi sự kiểm duyệt, để bắt đầu như một người tự do hoàn toàn, bằng album Bụi Đường Ca. Mà thật lòng lúc đó không dám nghĩ rằng sẽ có một ngày, mọi thứ không kiểm duyệt trên internet như hôm nay. Đơn giản, tôi chỉ muốn đứng về phía những người đi trước, chia sẻ cùng cảnh ngộ với họ.

Cảm ơn, cuốn sách ra đời, như một dịp để nhớ, và tưởng niệm đến tất cả những văn nghệ sĩ của miền Nam đã sống, đã viết, và đã hát với tinh thần tự do trong mọi hoàn cảnh, ở mọi phương trời. Họ là những kẻ bị xô đẩy vào góc tối nhưng vẫn hy vọng và dấn tới. Xã hội âm nhạc hiện hành VN hôm nay là một chứng minh. 

Thỉnh thoảng tôi vẫn nhận được những tin nhắn của những người bạn trẻ hỏi là phải làm sao trước thời cuộc hôm nay. Cầm cuốn sách trên tay, đọc về những sự tự do trong văn hóa miền Nam đã từng có, tôi chỉ muốn nói rằng chúng ta hôm nay, cũng vậy, phải luôn hy vọng và dấn tới trước những barie độc tài, mới có thể tìm thấy những bến bờ khác chờ đón, phía ngoài của ràng buộc ao tù, kiểm duyệt.

Dù là giành lại cái đã có, hay tìm đến đường biên mới, đừng bao giờ từ bỏ niềm hy vọng và luôn dấn tới, của mỗi người.

Wednesday, December 23, 2020

Mừng Giáng Sinh từ một người ngoại đạo

Mùa Giáng Sinh năm đại dịch thứ nhất, thật thú vị khi được nghe một tu sĩ Phật giáo kể chuyện ngày Chúa sinh ra. Trong ngôi chùa nhỏ của hòa thượng Thích Thiện Minh, bữa cơm ngày cuối năm, ông kể lại nhiều kỷ niệm thời ngồi tù chung với các linh mục, các tu sĩ của Hòa Hảo, Cao Đài… và cả các sĩ quan của chế độ VNCH tại Xuân Lộc, Đồng Nai.
Hình ảnh cả ngàn người tù chia nhau một không gian chật chội, nhưng đầy yêu thương, như hiện ra trước mắt. Hai nhân vật của tôn giáo lớn là linh mục Trần Đình Thủ (1906-2007) và hòa thượng Thích Đức Nhuận (1924-2002) được mô tả là những thủ lãnh tinh thần của tất cả mọi người, cố gắng xây dựng một nơi hà khắc thành những nơi chia sẻ, an ủi lẫn nhau.
Ngài Thích Thiện Minh kể rằng Giáng sinh hàng năm nơi trại tù ấy, ngài linh mục Trần Đình Thủ luôn tính đủ số các tù nhân trong trại, và thuyết phục cán bộ để cho mọi người được nhận những phần quà và tiền lưu ký (tiền gửi vào trại, để tù nhân có thể mua hàng, thức ăn trong trại) lớn hơn ngày thường, cùng mừng một ngày lễ Giáng Sinh. Đức hy sinh và uy tín của linh mục hàng năm vẫn làm được điều đó, thậm chí khiến các cán bộ cũng đồng ý làm việc nhiều hơn để đạt được yêu cầu của ngài. Theo lời kể, lúc đó mỗi người tù chỉ nhận được 20.000 đồng tiền lưu ký, với chữ ký chấp nhận của cán bộ trại. Mùa Giáng Sinh, linh mục Trần Đình Thủ nhắn ra ngoài vận động, không để sót một ai trong số cả ngàn người tù, nên có đủ phiếu hợp lệ nhận tiền của từng người, các cán bộ trại phải chia nhau ký, mất đến mấy ngày mới đủ số phiếu theo yêu cầu của ngài.
Một miếng bánh, một điếu thuốc… là những món quà quý trong những ngày như vậy. Mỗi tù nhân không phân biệt là ai, đều được nhận cùng với lời chúc hy vọng cho bản thân mình và cho mọi người. Chúa thật sự đã ở cùng anh chị em trong những giờ phút đó. Dĩ nhiên, lễ tôn giáo thì không được nhìn nhận trong trại giam nên khi chúc nhau, mọi người đều nói nhỏ với nhau, mừng Giáng sinh an lành.
Thậm chí có một mùa Giáng Sinh, thấy mọi người phải đi lao động cực nhọc quá, linh mục Trần Đình Thủ từng trực tiếp gặp cán bộ trại, xin rằng nếu phần lao động đó được quy bằng tiền, ông muốn được đại diện cho tất cả tù nhân, tạo quy chế mới để ngày chỉ đi lao động 4 tiếng thôi, còn bao nhiêu thành tiền, mỗi tháng ông sẽ nhờ người đến trại để nộp vào. Dĩ nhiên, điều đó không được ban quản lý trại giam chấp nhận, nhưng lại là một kỷ niệm không thể nào quên đối với những ai đã từng có thời gian ngồi tù với ngài.
Phía Phật giáo cũng vậy, hòa thượng Thích Đức Nhuận cũng cố vận động, chia sẻ cho mọi người vào ngày Phật Đản. Cũng tương tự như cách làm phía Công giáo, ngày lễ này cũng là một ngày mà mọi người cùng được chút khác biệt. Hai vị linh mục và hòa thượng này ở trong tù, với nhau như bạn thân, luôn chia sẻ cách làm và giúp đoàn kết các người tù với nhau.
Quà Phật Đản cũng đặt ở trên đầu chỗ ngủ mọi tù nhân, không phân biệt là ai. Có năm, quà chia chậm, thấy mình chưa có, linh mục Trần Đình Thủ đi qua phía trại giam của hòa thượng Thích Đức Nhuận, cười hỏi “Sao Phật Đản mà tôi chưa được quà?”. Lập tức hòa thượng Thích Đức Nhuận chắp tay xin lỗi – thật sự - nói sơ xuất chậm trễ, rồi tự tay trao quà cho ngài.
Chuyện kể, chỉ để thấy rằng tôn giáo không có biên giới. Nếu sống với kim chỉ nam là tình thương và lòng từ bi, mọi sự khác biệt đều là thứ tầm thường nhất. Sự thân thiết và chia sẻ của hai vị lãnh đạo tôn giáo tại trại giam vô thần, luôn là bài học lớn cho đời sau.
Hòa thượng Thích Thiện Minh, người kể lại câu chuyện cũng là một tù nhân 26 năm, có cơ duyên gặp được cả hai vị linh mục và hòa thượng trong trại Xuân Lộc, Đồng Nai

Câu chuyện Giáng sinh của những năm rất xa được kể lại, cho thấy yêu thương và hòa đồng là điều đã luôn có, nhưng luôn mất đi hay bị thao túng vì chính trị.
Trong cuốn Lasting Happiness in a Changing World do nhà báo Douglas Abrams ghi lại cuộc trò chuyện phi thường của hai người bạn thân là Đức Đạt Lai Lạt Ma 14 và Tổng Giám Mục Nam Phi Desmond Tutu, cũng cho thấy, khoảng cách và sự chia rẽ do con người tạo ra chỉ có thể cùng những âm mưu và thấp hèn. Cùng một động tác khi cả hai con người vĩ đại này bày tỏ với nhau – đặt tay lên tim – Đức Tổng Giám Mục nói đó là chân thành và yêu thương, còn Đức Đạt Lai Lạt Ma thì nói đó là từ bi, quảng đại.
Rõ là chẳng khác biệt gì, khi mọi người đến với nhau bằng những điều tốt đẹp nhất và tự giải thích nó bằng suy nghĩ tử tế nhất.
Mùa Giáng Sinh năm nay, không thấy nhiều các thầy tu lừng danh lẫn vô danh bên Phật giáo quốc doanh lên tiếng chống đối lễ mừng Chúa sinh ra của người công giáo. Cũng không thấy các công văn chỉ đạo từ ai đó đòi dẹp bỏ những hình ảnh Công giáo trong các trường học trẻ em. Từng năm như vậy trước đây, các ngôn luận đó luôn là loại gai độc làm nhói đau trái tim của tất cả những người tử tế, yêu tự do tôn giáo trên đất nước này.
Chưa hẳn Giáng Sinh năm nay là một giáng sinh thật sự an lành tại Việt Nam, khi vắng bớt những điều như vậy. Vì trước đại hội Đảng, mọi thứ ổn định xã hội là điều tối cần thiết, hơn là thực hiện nhiệm vụ thường ngày của các loại thầy tu, quen hành động báo công như vậy.
Cuộc sống vẫn mở ra với hướng đi tự nhiên, chọn lựa thanh bình cho mình và cho người. Tất cả từ sâu thẳm trái tim của mình. Thật đáng xấu hổ, nếu như cuộc sống ngoài đời lại thiếu tình thương và sự hòa đồng tôn giáo, thua cả những Giáng sinh khốn khó trong các nhà tù.

 

------

·     • Linh mục Trần Đình Thủ (1906-2007) là người sáng lập ra Dòng Đồng Công tại Việt Nam từ năm 1953. Trong một thời hai thập niên 60 và 70, sự phát triển mạnh mẽ của dòng tu này khiến những người chứng kiến phải khâm phục. Hoạt động của Dòng Đồng Công Là tập trung vào việc phát triển giới trẻ và mở rộng tất cả những hoạt động hỗ trợ cho giáo dục cho thanh thiếu niên nghèo. Tháng 6/1976, linh mục Đa Minh Maria Trần Đình Thủ bị chính quyền mới bắt giam lần đầu (giam trong một năm) cùng với 52 người của nhà Dòng tại Di Linh, mà lý do cho đến hôm nay vẫn mù mờ. Theo nhiều người kể lại, phía công an bắt giam nói khám phá tài liệu dạy giáo lý cho tín hữu của Dòng Đồng công do Linh mục Đa Minh Maria Trần Đình Thủ soạn thảo, mang tính chất tuyên truyền phản động chống Đảng và nhà nước XHCNVN. Thật khó giải thích, vì các tài liệu giáo lý này dạy rằng phải vâng lời và tín thác cho Chúa chứ không vì điều gì khác. Án tù (bắt lần hai, từ năm 1987) của linh mục Trần Đình Thủ là 20 năm, nhưng ngài chỉ ở có 6 năm thì được trả tự do, do sự vận động của nhiều nơi.

·     • Hòa thượng Thích Đức Nhuận (1924-2002) là một bậc trí giả, ngài vừa là giáo sư triết học Phương Đông của đại học Vạn Hạnh, vừa là chủ bút của của nguyệt san Vạn Hạnh và Hóa Đạo, cũng là chánh thư ký viện Tăng Thống Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (từ 1967 đến 1973). Năm 1985, ngài bị chính quyền mới kết án âm mưu, tổ chức chống cách mạng, do đó có cùng thời gian được gặp gỡ và làm bạn với linh mục Trần Đình Thủ. Ngài ngồi tù 9 năm, và về chùa Giác Minh tĩnh tu vào năm 1993. Từ năm 1977, hòa thượng Thích Đức Nhuận đã bày tỏ chính kiến và sự khác biệt với chính quyền mới. Nhiều bài phân tích và tuyên bố của ngài đã gây xôn xao trong lòng người miền Nam lúc đó. Bản cáo trạng phát đi năm 1977 của ngài là một ví dụ. Trong đó, ngài viết “Nạn nước không từ ngoài tới, mà bi thảm thay, lại do chính con người Việt Nam, mất linh hồn, chối bỏ dân tộc, từ chối giá trị làm người, cam tâm làm tôi tớ cho ngoại bang... xô đẩy đồng bào đất nước ta vào cuộc chiến tranh lửa đạn, một cuộc chiến tranh tàn bạo, nhơ bẩn, phi lý, chỉ nhằm phục vụ ý thức hệ và quyền lợi của khối Quốc tế Vô Sản… Hiện đồng bào mọi giới đang phải nép mình sống cuộc đời tù ngục, mất hết tự do kể cả thứ tự do tối thiểu cần có dành cho con người là quyền cư trú, đi lại, làm ăn sinh sống cũng đã bị nhà nước ngụy quyền cộng sản hạn chế, ngăn cấm.” (trích)

-------

Tuesday, December 22, 2020

Chuyện nhỏ, tháng 12

 

Tháng 12, làm nhớ thật nhiều điều, nhớ cả những người đã mất.

Tôi chứng kiến tháng 12 lần lượt đưa hai người mình yêu mến về với trời xanh: Nhạc sĩ Việt Dzũng - một người anh với nhiều kỷ niệm khó quên, và Duy Quang, giọng ca đã dẫn dắt tuổi hoa niên của tôi dạo chơi trong khu vườn thơ mộng, và đến với âm nhạc Phạm Duy từ thuở nhỏ.

Ca sĩ Duy Quang mất 19-12 năm 2012, lúc 62 tuổi. Còn nhạc sĩ Việt Dzũng thì mất 20-12, năm 2013, lúc 55 tuổi. Cả hai chuyến du hành định mệnh đó, đều làm tôi ngẩn ngơ.

Với Duy Quang, là những bài hát đầu tiên gây choáng váng về âm nhạc lẫn người trình bày. Đó là thuở non dại của cuối thập niên 70, của thằng con nít đang thiếu niềm vui, vô tình bấm vào cái máy cassette của bà chị trong nhà. Giọng hát như kẹo mạch nha của Duy Quang làm bài Đốt lá trên sân (Bé Ca 6) của Phạm Duy, lẫn lời bài hát như loại ma túy LSD không gian, có khả năng làm bàng hoàng đến nửa ngày sau.

Nếu bé yêu anh, anh mời đến ở
Dưới mái thô sơ, nơi vườn xanh cỏ
Ngày thì chia nhau sách đọc, mới cũ
Để chiều còn ra tưới vườn, quét lá

Nếu gọi đó là ngôn tình, thì đó là thể loại ngôn tình chân nguyên nhất, bùa ngải nhất trong trí nhớ, đủ sức để mấy chục năm sau, thằng con nít đó nghe thấy những loại ngôn tình đổ về từ thượng nguồn Trung Hoa chỉ là đồ dỏm. Thứ ma túy LSD đó, nó vẫn mang theo, êm dịu trong từng nhịp thở.

Khi nhạc sĩ Phạm Duy về ở Việt Nam, trong căn nhà ở quận 11, tôi đến thăm và hỏi ông rằng, nghe nhạc Việt Nam hiện nay, ông nghĩ rằng tương lai sẽ còn đất cho kiểu âm nhạc luôn cân nhắc từng câu, chữ, ôm nặng những khối tình như vậy không? Ông cười như bỉu môi, nói chắc khó lắm. "Nhạc mới sẽ đi về hướng nghe trên da, chứ không nghe trong tim. Cái gì làm người trẻ rợn da gà, dựng lông tay và điện tử hóa sẽ chiếm lấy họ nhanh nhất. Nhưng nhạc với ca từ đẹp vẫn sẽ sống theo cách của nó".

"Sống", là một từ khó cảm nhận hết được, lúc đó. Khi ông mất đi, ca sĩ Duy Quang mất đi, tôi mở lại các bài hát cũ của những người không còn hiện diện trên thế gian, mới nhận đủ các ý nghĩa của chữ "sống", bao gồm cả việc tôi sẽ "sống" cùng với những điều ấy.

Quét lá trên sân, vun thành đống nhỏ
Bé sẽ cho anh cái quyền nhóm lửa
Mặt trời đã tan, giữa chiều êm gió
Một ngày ra đi với một chiều mơ



Còn với Việt Dzũng, thì là một câu chuyện khác.

Tôi may mắn được liên tục làm việc, lang thang xuyên bang, hội hè cùng nhạc sĩ Việt Dzũng trong một thời gian dài. Cứ ngồi gần anh, trò chuyện suy tư hay tán gẫu, anh luôn là nguồn năng lượng đổ vào người, khiến da thịt cứ ngứa ngáy, cứ muốn làm điều gì đó, vì sợ thời gian nham hiểm sẽ cướp mất cảm hứng của mình.

Việt Dzũng làm việc bằng ba người cộng lại. Có lúc phải bàn việc với anh, thấy anh đang nói chuyện A, nhưng tai thì vẫn nghe tin từ đài Mỹ, dịch trực tiếp để gửi đi, lại thấy nhắn chuyện B gì đó với ai đang có việc với anh. Nhiều khi nhìn anh bần thần : "Sao anh siêu vậy?", Việt Dzũng cười hề hề :"Đời ép anh mày phải siêu!". Quay về phòng thu, mấy tiếng sau lại thấy anh chống nạng đi vào, "Nghe thử bài anh mới viết nha". Lại là một bài nhạc mới, theo yêu cầu của nơi nào đó.

Những ngày trước khi mất, giọng anh khàn đục và mất hơi.  Ghi âm cho anh hát mà cảm thấy buồn buồn, nhưng lại không dám nói. Là một người Công giáo nhưng rất ngang tàng, Việt Dzũng đột nhiên chuyển sang viết và hát nhiều bài về Chúa và con đường đi của đời người sẽ đến, bằng giọng rất ngoan, suy nghĩ cũng đằm thắm hơn.

Anh kể rằng bác sĩ muốn thay một số mạch máu trong tim anh, vì đã hư. Nếu như người thường thì sẽ lấy những mạch máu dưới đùi hay bắp chân đưa lên. Khổ nỗi chân anh lại không đủ khỏe nên không thể tìm được những mạch máu đủ tốt thay thế. Bác sĩ đề nghị thay bằng một số mạch máu lấy từ tim heo. Anh thoái thác, nói để về suy nghĩ đã. Về quán cafe, anh lại cười khùng khục :"Ghê quá, em thử nghĩ tự nhiên mình có trái tim chơi đồ của heo, được không?". Tôi thúc "được", chỉ mong anh đồng ý, chỉ mong anh khỏe với cả đống ý tưởng anh luôn kể với tôi, bao gồm ước mơ một ngày Việt Nam thay đổi, anh sẽ về mở một đài phát thanh tại Saigon.

Trái tim có mạch máu heo? Có gì đâu đáng sợ. Trong đời mình, tôi đã thấy đủ những người sinh ra đã có sẳn trái tim như heo thật sự, kể cả đàn em, bạn bè lẫn quan chức chính quyền. Nhưng với Việt Dzũng, chắc chắn phần heo không thể lấn được phần người của anh.

Ấy vậy mà không kịp. Buổi sáng tháng 12 năm đó, nghe tin anh mất như chuyện đùa. Anh lên cơn đau tim ngay tại bàn làm việc, đưa đến bệnh viện thì đã muộn.

Sau đám tang của anh, tôi quay về Việt Nam, tôi như bị tuột hết năng lượng. Rồi năm sau, nghe tin tên anh được chính quyền địa phương đặt cho một đoạn đường trên đại lộ Beach, là "Việt Dzũng Human Rights Memorial Highway". Anh ngầu thiệt!

Chắc ít người biết câu chuyện tôi vừa kể, về một người đã sống và chết, kiêu hãnh với cuộc đời tự do, và không muốn mang trong mình trái tim thú vật.

 

Saturday, December 19, 2020

Làm người yêu nước

 


Lần đến gặp nhà nghiên cứu Phan Thuận An ở Huế, ông giới thiệu cho thấy một văn bản thú vị có từ thời vua Bảo Đại - rất quan trọng - để chứng minh rằng Hoàng Sa thuộc về Việt Nam.

 Bản gốc tấu chương năm 1939, của học giả Phạm Quỳnh, bấy giờ có chức Tổng lý đại thần, gửi cho vua Bảo Đại để xin ủy lạo cho binh sĩ đồn trú ở Hoàng Sa, nơi thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam. Vào thời ấy việc di chuyển ra Hoàng Sa bằng thuyền, đồn trú luân phiên của binh sĩ rất khó khăn. Không chỉ là trấn giữ phần đảo chủ quyền, mà đôi khi phải đánh nhau với hải tặc và cứu hộ cho ngư dân Việt. Bắc Kinh thì luôn đưa ra những lý luận cho thấy rằng Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc, lấn át và thách thức Việt Nam về các chứng cứ chủ quyền. Văn bản quý của nhà nghiên cứu Phan Thuận An đưa ra là một trong những chứng cứ mạnh mẽ và dứt khoát về việc Hoàng Sa thuộc người Việt Nam cho đến tận thời kỳ vương triều cuối cùng. Với tấm lòng yêu nước, nhà nghiên cứu Phan Thuận An gửi tặng bản gốc tấu chương cho Hà Nội, để nhằm góp vào những cứ liệu bảo vệ chủ quyền tổ quốc, theo lời kêu gọi lúc ấy. Ông chụp lại để làm bằng chứng, và kỷ niệm, treo ngay trong phòng khách nhà mình. Nhưng không hiểu vì sao chưa bao giờ thấy Hà Nội chính thức sử dụng tư liệu này trong việc tranh cãi về chủ quyền Hoàng Sa với Trung Quốc, và cũng không thấy chia sẻ bản văn này với bất kỳ nhóm nghiên cứu hay nhà nghiên cứu nào về biển Đông trong việc chống lại các luận điệu xâm lược hàm hồ của Trung Quốc. Khi hỏi ông rằng, liệu ông có biết giờ này văn bản đó ở đâu không? Nhà nghiên cứu cả đời gắn với Huế cười buồn, "chỗ mô thì chỉ có họ biết thôi". Ông nói rằng ông chỉ làm hết trách nhiệm của một công dân với tổ quốc - đặc biệt là một công dân ý thức mình là người Việt Nam - chứ không vì bất k chuyện công danh hay lý tưởng chủ nghĩa gì cả.
Khác với những kẻ sau năm 1975 được tự tung tự tác chiếm đoạt các tài liệu quý của nhà Nguyễn, cũng như từ văn khố lưu trữ của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, rồi tự xưng mình là Huế học hay là nghiên cứu cách mạng gì đó, nhà nghiên cứu Phan Thuận An tự mình đã viết lên hàng trăm công trình nghiên cứu, chọn sống một đời kể lại quá khứ có thật, và khiêm tốn. Theo lời của nhà nghiên cứu Phan Thuận An thì sau tấu chương của Phạm Quỳnh, các binh sĩ được Hoàng đế Bảo Đại thưởng hậu.
Cũng như hậu sinh Phan Thuận An, học giả Phạm Quỳnh cũng đã làm tất cả mọi thứ trong đời mình với một trách nhiệm công dân, chứ không chỉ là một quan chức dâng tấu chương. Thế nhưng tâm huyết của ông với đất nước và văn hóa Việt Nam được đổi lại bằng án tử hình bởi những người cộng sản, hay nói chính xác hơn là từ Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên, vào năm 1945. Trong tạp chí Xưa và Nay số 269 (tháng 10/2006), do người chịu trách nhiệm là nhà sử học Dương Trung Quốc, cũng ghi chép lại việc tử hình ông bởi cách mạng. Toàn văn kết án của Ủy ban Khởi nghĩa Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án quân sự Thuận Hóa ngày 9/12/1945, ghi rằng:
"Phạm Quỳnh, một tay cộng sự rất đắc lực của giặc Pháp trong việc củng cố địa vị của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mãi quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột, vơ vét tài sản của quốc dân. Mặc dầu chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9-3-1945, nhiều triệu chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta". (trích) Trong văn bản này, còn hai người nữa bị kết án tử hình nữa là Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân, thuộc gia đình của tổng thống đệ nhất VNCH Ngô Đình Diệm. Được biết, vừa khởi nghĩa chiếm chính quyền, Ủy ban Cách mạng vừa cho người đến bắt ngay cả ba ông, vào ngày 23-8-1945. Xưa và Nay cũng có trích lời của nhà sử học Cộng sản Trần Huy Liệu rằng việc kết án và giết hại Phạm Quỳnh là điều sai lầm và hoàn toàn vô lý. Kết luận của bài nghiên cứu lịch sử rằng việc giết người đó, vô cùng "lạc lõng" trong thời đại cách mạng đang muốn chinh phục lòng người của ông Hồ Chí Minh. Tiếc thay sự thật thì vẫn còn đó, nhưng những câu chuyện để bảo vệ sự thật như ở Xưa và Nay, thì cũng hết sức lạc lõng trong một thời đại thiếu ánh sáng. Đọc chuyện xưa, mà sợ. Những nỗ lực gây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam với tư cách công dân yêu nước của học giả Phạm Quỳnh chỉ được đổi lại bằng cái chết, và sự thật bị bóp méo. Nghe chuyện nay, rồi buồn. Tư liệu nghiên cứu công phu với tư cách công dân yêu nước của nhà nghiên cứu Phan Thuận An cũng được đổi lại bằng sự thờ ơ, và lãng quên. Và cũng có rất nhiều công dân yêu nước khác trên đất nước này đã làm tất cả theo bổn phận và lương tâm, nhưng rồi chỉ được đổi lại bằng sự đe dọa, sách nhiễu hay tù đày như Trần Huỳnh Duy Thức Nguyễn Văn Hóa, Hoàng Bình, Trần Đức Thạch... và rất nhiều người khác nữa, không thể kể hết. Ngẫm lại, sống với một lương tâm công dân yêu nước, thật khó biết bao.