Saturday, July 18, 2020

Bóng tối sau những nụ cười





Hà Nội vẫn rất giỏi trong việc bày ra những điều sáng sủa trong các nhà giam, vốn mang nhiều tai tiếng về sự khắc nghiệt và bạo hành, theo nhiều nhận định của giới tranh đấu cho nhân quyền. Tháng 7 năm 2020, theo báo Guardian cho biết, Việt Nam đã mời 5 nhà báo thuộc Liên Minh Châu Âu đi thăm vài trại giam, nhằm thuyết phục rằng nhà tù ở Việt Nam là một nơi đủ tốt, không như quốc tế vẫn tố cáo, và vẫn luôn cải thiện.

Lý do của lời mời này, là sau khi EVFTA đã được ký kết giữa hai bên, Việt Nam phải có những hành động, chứng minh cho các cam kết với EU về vấn đề nhân quyền và trại giam, mà vốn các điều khoản này nằm trong các giao ước về thương mại. 

Theo báo, Guardian lúc này ở Việt Nam có khoảng 100.000 tù nhân.  Đó là con số mà nhà nước Việt Nam thông báo ra thế giới.

Việc mời các nhà báo của Liên minh, châu Âu đến Việt Nam, nhằm chứng minh rằng Hà Nội đã thực thi đúng công ước số 105 của tổ chức ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế ) về vấn đề chống cưỡng bức lao động trong trại giam. Nơi mà các nhà báo được mời đến là một trại giam kinh tế và hình sự ở Thủ Đức, cách Saigon khoảng 100km. Dĩ nhiên, nơi này hoàn toàn khác với trại giam Gia Trung hay ở số 6 Nghệ An, cũng như những người được tiếp xúc và phỏng vấn với các nhà báo EU đã được sắp đặt trước, không phải là Nguyễn Viết Dũng hay Nguyễn Văn Hóa.

Briton Joe Hui, 63 tuổi, người đang chịu án tù chung thân vì tội ăn cắp 700.000 USD của chính phủ Việt Nam, là một trong những người được chọn lựa để nói chuyện với các nhà báo. Ông Hui khẳng định rằng cuộc sống trong tù rất tốt, và nếu biết vâng lời, thì cái gì cũng thuận lợi.

Nói với các nhà báo EU, ông Hồ Thành Đình, Cục trưởng Cảnh sát quản lý trại giam Việt Nam, đã phủ nhận một cách dứt khoát về những cáo buộc tra tấn hoặc ngược đãi vì động cơ chính trị. Nhưng cũng không có một tù nhân chính trị nào được tiếp xúc với các nhà báo này để chứng minh hùng hồn hơn điều mà ông Hồ Thành Đình nói.

Theo công bố của Amnesty International hồi tháng 5/2019,  tù nhân lương tâm bị bỏ tù một cách bất công trên khắp Việt Nam đã tăng lên 128, mà theo tổ chức này, là dấu hiệu của một cuộc đàn áp ngày càng tăng đối với hoạt động ôn hòa.

Tài liệu này cũng nói các điều kiện giam giữ vẫn còn kinh khủng, với bằng chứng các tù nhân bị tra tấn và bị đối xử tàn tệ, thường xuyên bị giam giữ và bị biệt giam, giữ trong điều kiện tồi tàn, và từ chối chăm sóc y tế, nước sạch và không khí trong lành.

Trao đổi với mẹ Nấm, tức tù nhân lương Tâm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, người từng bị gọi án 10 năm tù giam vào năm 2017 vì đăng các bài viết coi là chống phá nhà nước. Tờ Guardian tường thuật rằng bà Quỳnh nói rằng hầu hết tất cả những tù nhân chính trị khi bước vào nhà giam luôn luôn bị ngược đãi.  Thậm chí phụ nữ không được cấp phát những vật dụng vệ sinh cá nhân hàng tháng theo nhu cầu. Ngoài ra nhiều người cũng bị buộc phải làm những việc ngoài ý muốn và bị đánh đập. Bà Quỳnh may mắn đã được Hoa Kỳ can thiệp để ra khỏi nhà tù sớm.

Một trường hợp tương tự là luật sư Lê Công Định, người bị kết án 5 năm tù vào năm 2009, được ra tù của năm 2013. Ông Định xác nhận về những tình trạng tồi tệ trong nhà tù, và nói cán bộ trại giam thường lạm dụng sức lao động của các tù nhân, dùng tù nhân để sản xuất và làm dịch vụ mà tiền công thì những người này không hề được hưởng.

Lao động cưỡng bức hay ngược đãi tù nhân là một trong những vấn nạn mà cả thế giới được quan tâm và dùng nó như là một giá trị đạo đức, để có thể kết nối với nhau trong việc làm ăn. Và dù lấy cớ hay thật lòng, thì giá trị này vẫn còn quan trọng trong nhiều thập niên để ràng buộc nhau.

Cũng cùng vào lúc mà các nhà báo của Liên minh châu Âu đến Việt Nam, người ta được biết rằng dịch giả và nhà báo Lê Anh Hùng, vì những tố cáo công khai về tham nhũng và các chính sách sai lầm của Nhà nước Việt Nam, đã bị bắt giữ hơn 2 năm. Nhưng để hóa giải tất cả những điều đó hơn là đưa ra tòa, thì Hà Nội đã tìm cách đẩy anh vào nhà thương điên ở Hà Nội với những liều thuốc bí mật, nhằm phế bỏ toàn bộ tri thức và trí nhớ của nhà tranh đấu này.

Không thấy các nhà báo này đề nghị đến gặp Trần Huỳnh Duy Thức, một trong những cái tên quen thuộc của châu Âu, đã được nhắc đi nhắc lại liên tục và thậm chí đưa lên bàn cân trong việc ký kết Hiệp định EVFTA. Kể từ cuối năm 2018, sau khi nước Đức hạ giọng về vấn đề Trịnh Xuân Thanh và đẩy mạnh việc làm ăn thương mại với Việt Nam, nhà tranh đấu Trần Huỳnh Duy thức cũng như  nhiều tù nhân lương tâm khác ở Việt Nam, chỉ còn là một cái bóng mờ, đằng sau những bức tranh đẹp mà Hà Nội giới thiệu ra bên ngoài.

Trong một thế giới mà lợi ích là ưu tiên, việc quan sát của năm nhà báo Liên minh châu Âu có thể là một thể thức ngoại giao bổn phận và tới đó cũng là đủ. Số phận của một vài con người ở Việt Nam, có lẽ cũng không quan trọng bằng kết quả của một hợp đồng của giới cầm quyền. Vì thịnh vượng, thế giới đang đi đến xu hướng bắt tay nhau thật chặt và cười tươi, cố tình quên lãng vùng bóng tối phía sau, vẫn luôn làm lấm lem trên chiếc cà vạt của chính họ, trong mọi câu chuyện.   

  

Saturday, July 4, 2020

Phật Giáo Hòa Hảo, tôn giáo dạy biết yêu đất nước


Phật Giáo Hòa Hảo, tôn giáo dạy biết yêu đất nước
Ngày 18 tháng 5 âm lịch hàng năm là ngày mà những tín đồ đạo Phật giáo Hoà Hảo (PGHH) vẫn làm lễ lớn, để tưởng nhớ Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã sáng lập ra hệ phái tín ngưỡng này. PGHH có tên gọi này, bởi được ghép từ hai ý nghĩa hiếu hoà và giao hảo để tạo nên chính lý. Sự có mặt của PGHH là một trong những chi tiết vô cùng độc đáo của lịch sử Việt Nam giai đoạn kháng Pháp, và xiển dương chủ nghĩa dân tộc chống độc tài.
Trong khi ở phía Bắc nổi lên Việt Nam Quốc Dân Đảng, thì ở phía Nam sự có mặt của PGHH là những lực lượng khiến cho người Pháp vô cùng lo ngại, và cũng là những cái gai trong mắt của tổ chức Việt Minh, tiền thân của đảng Cộng sản Việt Nam. Lý do đơn giản là PGHH tham gia tranh đấu với tiêu chí dứt khoát là dùng đạo nghĩa của người Việt để đoàn kết tương trợ lẫn nhau, và giành độc lập cho người Việt Nam, nước Việt Nam chứ không phụ thuộc vào một lý tưởng chính trị nào bên ngoài, và dứt khoát không chấp nhận độc tài.
Với những người không phải là tín đồ PGHH, chỉ riêng việc thu hút và thành công trong việc tạo ra một tập hợp rộng lớn, từ một vị thanh niên nho nhã, lúc chỉ mới 19 tuổi đã là một sự kỳ lạ đáng nể. Vào lúc khai đạo năm 1939, số người miền Nam theo đạo Phật Giáo Hoà Hảo đã lên đến vài trăm ngàn người. Có những buổi thuyết giảng, dân chúng kéo đến nghe đã chục ngàn người, khiến người Pháp ghép ông vào tội truyền bá chính trị và đưa đi giam lỏng ở Sa Đéc, Cần Thơ, Bạc Liêu… nhưng bất kể nơi nào có tin Đức Thầy đến, dân chúng tấp nập kéo về xin nghe thuyết giảng và xin được làm tín đồ.
Những lời kêu gọi yêu nước thương nòi như tố cáo hiện trạng của Đức Thầy, khiến người Pháp tức giận giam Đức Thầy vào nhà thương điên Chợ Quán. Tương tự như cách đã áp dụng với chí sĩ Phan Bội Châu, khi bắt cóc cụ ở Thượng Hải và đem về Hà Nội xử án (1925), người Pháp chuẩn bị bí mật đưa Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ qua Lào để tiêu diệt một nhân vật có ảnh hưởng đến phong trào đòi độc lập ở An Nam thì tin này bị lộ ra ngoài, nên các tín đồ PGHH đã tập trung đi giải vây cho ngài. Khí thế lúc ấy rất mạnh, không khác gì khi dân Việt Nam nghe tin Pháp định xử tử cụ Phan Bội Châu, thậm chí còn mạnh hơn vì có hiến binh Nhật tham gia.
Nhưng vì lý lẽ gì mà PGHH lại có thể thu hút lượng tín đồ nhanh và mạnh mẽ như vậy? Ngoài tài diễn thuyết, thuyết pháp bằng thơ văn, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ còn đề ra những tiêu chí, kêu gọi mọi người phải luôn ghi nhớ bốn trọng ân của một người Việt, mà ngài nói rằng đã có từ thời Đức Thầy Tây An (tức người đã lập ra giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương – một người yêu nước và cải cách việc tu tập Phật giáo không cầu kỳ và hình thức).
Bốn trọng ân đó, còn gọi là Tứ Ân Đức, gồm
1. Ơn tổ tiên cha mẹ.
2. Ơn đất nước.
3. Ơn Tam Bảo
4. Ơn đồng bào và nhơn loại.

Thoạt nhìn, Tứ ân đức là những quy ước tu tâm, nhưng thật ra, ẩn sâu trong đó là chủ nghĩa dân tộc duy nhất. Phối hợp với việc giản đơn trong thờ cúng và màu nâu phục trang, đạo nghĩa làm người, đúng với tinh thần của người Việt, đã khiến người người kéo nhau đến tham gia.
Chuyện kể rằng có một người gốc Hoa vì quá hâm mộ Đức Thầy nên xin theo đạo, nhưng lại không thể ăn chay được. Ông này đến vấn ý và khóc nói rằng không hiểu vì sao không nhịn ăn thịt nổi theo lời dạy. Đức Thầy bèn hỏi rằng ông ta một tháng ăn được mấy ngày; vị này nói mỗi ngày chỉ ăn được một buổi thôi. Đức Thầy cười và nói “vậy chú đã ăn được đến 15 ngày trong tháng rồi, vậy cũng là tốt quá so với nhiều người, nên có gì là buồn?”. Kể vậy, để biết sự đơn giản và gần gũi của PGHH từ ngày ấy rất thích hợp với người Nam Bộ, nên đã thu hút được rất nhiều tín hữu.
Tư tưởng Tứ ân đức, ngay từ đầu, đã khác biệt với lý tưởng hy sinh cho quốc tế cộng sản của Việt Minh đã khiến cho PGHH và Việt Minh đi vào chỗ xung đột một mất một còn. Năm 1945, sau khi tiếm quyền từ vua Bảo Đại, những người cộng sản đã ra sức tiêu diệt những ai bị coi là đối thủ, vì không muốn mất sức cho công cuộc nhất nguyên về sau. Nhiều cuộc ám sát hay xử tử công khai là chuyện đã xảy đến với không ít người Việt trí thức, yêu độc lập, một cách vô lý và bất ngờ. Chẳng hạn như ở ngoài Bắc, Nguyễn Bá Trác (1881-1945) bị Việt Minh lôi ra xử bắn ở Bình Định vì tội làm việc với người Pháp. Ở trong Nam, em trai của Đức Thầy là Huỳnh Thanh Mậu, anh họ của học giả Nguyễn Hiến Lê là Nguyễn Xuân Thiếp bị kết tội muốn lật đổ Việt Minh nên bị xử bắn ở Cần Thơ. Tất cả những vụ như vậy, chỉ có lời kết án của toà án cách mạng, và không có nạn nhân nào được quyền biện hộ.
Nhưng vì sao giữa PGHH và Việt Minh, và sau đó là Cộng sản, lại có những xung đột dữ dội như vậy? Đơn giản là từ đầu, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đã xác định Việt Minh là một nhánh của Đệ Tam Cộng Sản. Vốn có một lực lượng vũ trang được hình thành cho việc kháng Pháp, sự hùng mạnh của PGHH cũng trở thành một đối thủ, mà Việt Minh biết là cần phải dẹp bỏ bằng bất cứ giá nào.
Chính vì vậy, ngày 8 tháng 9/1945, nhìn thấy khuynh hướng độc đảng của Việt Minh, PGHH đã có một biểu tình – là cuộc biểu tình đầu tiên trong lịch sử Việt Nam không chấp nhận thể chế độc tài cộng sản, đòi hỏi một chế độ dân chủ – tại Cần Thơ. Theo báo chí lúc đó, đã có khoảng 20.000 người tham gia để biểu thị một tinh thần ôn hoà đòi độc lập và một chế độ dân chủ. Nhưng ngay sau đó, những tín đồ PGHH đã bị đáp trả: hàng ngàn người bị Việt Minh chận bắt hoặc giết chết.
Theo lời kể nhà văn Hứa Hoành, tác giả các sách như Biên Hùng Liệt Sử, Những Phú Hộ Lừng Danh Nam Kỳ, Các Giai Thoại Nam Kỳ Lục Tỉnh… thì khi đối mặt với Trần Văn Giàu, người đứng đầu Lâm Uỷ Hành Chánh của Việt Minh ở miền Nam, ông có hỏi rằng “Sao cách mạng thành công rồi mà còn giết quá nhiều người có tài, có đức?” Thì Trần Văn Giàu trả lời rằng “Cách mạng cần đức để làm gì? Có cuộc cách mạng nào mà không giết người?”.
Một ngày sau, ngày 9-9-1945, Việt Minh tổ chức vây bắt Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ ở số 8 Sohier, góc đường Miche nhưng không thành công. Từ đó, sự xung đột giữa Việt Minh và PGHH ngày càng lên cao, khi các lực lượng vũ trang của PGHH bắt đầu ăn miếng trả miếng các cuộc tấn công, đặc biệt khi Trần Văn Giàu tung tin tuyên truyền là PGHH chuyên giết người ăn thịt.
Năm 1947, vì muốn hoá giải sự xung đột đẫm máu này, Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đến Đồng Tháp Mười, để gặp Bửu Vinh, đại diện của phía Việt Minh để bàn hòa ước. Lúc đi, ngài chỉ mang theo 4 người hộ vệ, chèo xuồng vào nơi họp. Chuyện xảy ra lúc khoảng 8g tối, khi cuộc thảo luận chưa dứt, đột nhiên xuất hiện 8 người của bên Việt Minh xông vào đâm, bắn. Duy chỉ có một hộ vệ duy nhất là anh Phan Văn Tỷ thoát được, là người kể lại sự việc lúc ấy. Anh Tỷ còn thấy trong lúc hỗn loạn, chính trị viên đại đội 66 của Việt Minh là Đào Công Tâm giơ súng ngắn nhắm vào Đức Thầy, nhưng Đức Thầy đã nhanh tay hất tắt ngọn đèn khiến trong phòng tối om, không còn ai biết gì sau nữa. Hôm đó là 16-4-1947.
Người cộng sản sau đó không xác nhận mình đã giết Đức Thầy, còn phía tín hữu PGHH thì cũng không tin Đức Thầy đã chết. Đó là một bí ẩn lịch sử mà chắc nhiều thập niên nữa mới có lời đáp. Người PGHH còn tin rằng, với sự kiêu ngạo của cộng sản lúc ấy, nếu giết được Đức Thầy, họ sẽ trưng ra bằng chứng để bóp chết mọi niềm hy vọng của gần 2 triệu tín đồ Hoà Hảo lúc ấy.
Người thân của mình bị giết, tín đồ của mình bị hãm hại… đã có nhiều giả thuyết cho là nếu Đức Thầy còn sống, ắt ngài sẽ rất tức giận và trả thù, hoặc khuyến khích sự trả thù. Thế nhưng ngược lại, vào giai đoạn 1946-1947, khi mâu thuẫn lên cao, lòng người PGHH phẫn uất đòi đánh trả mạnh hơn, chính Đức Thầy có để lại hai câu thơ khuyên can rằng:
“Hãy thương lấy những Việt Minh
Đó là mặt trận của mình ngày sau”.
Đó là lịch sử. Và lịch sử cần được kể đúng, nghĩ đúng. Vì lịch sử không phục vụ cho một ai, hay cho một chế độ nào, mà lịch sử là bài học cho một Việt Nam tương lai, bất luận đau đớn hay phũ phàng thế nào.

Saturday, June 20, 2020

Báo chí đảng & báo chí người Việt




Cũng cần có lúc, các nhà nghiên cứu về lịch sử nên đặt lại câu hỏi, vì sao ngày 21-6 hàng năm, được gọi là ngày Báo chí Việt Nam, chứ không phải gọi đúng tên là ngày báo chí của đảng Cộng sản Việt Nam? Dĩ nhiên, việc xét lại này, cần dựa trên lòng tự trọng và sự tử tế của trí thức Việt Nam có suy nghĩ tự do, không tư tưởng nô lệ đảng phái nào.

Theo những gì mà tư liệu của nhà nước hiện nay đưa ra, ngày 21-6-1925 là ngày mà ông Lý Thụy (tức Hồ Chí Minh) cho ra đời tờ Thanh Niên, một tờ báo có nội dung cho phong trào kháng Pháp. Nhưng quan trọng hơn, tờ báo này còn nhằm tạo ảnh hưởng cho khuynh hướng chủ nghĩa cộng sản và phong trào cách mạng của ông Lý Thụy – một bí danh được đặt từ Trung Quốc.

Tờ Thanh Niên, so với những bậc tiền bối của báo chí Việt ngữ, ra đời muộn hơn và thật lòng mà nói, ngoài chuyện chính trị, thì việc đóng góp mở mang nghề nghiệp không thể bì được các tờ hàng đầu như Gia Định Báo (15-4-1865), Nông Cổ Mín Đàm (1-8-1901), Nam Phong Tạp Chí (1-7-1917), Nữ Giới Chung (tháng 7-1918)…  Về lịch sử, Thanh Niên có hình thức như truyền đơn, in trên giấy sáp, tên báo viết bằng chữ Việt và chữ Hán, đầu trang 1 bên trái có hình ngôi sao 5 cánh, giữa ngôi sao có chữ số là số kỳ của tờ báo phát hành. Báo phát hành bí mật và bất định kỳ, (200 – 300 bản/kỳ), mỗi kỳ hai trang, có lúc 4 trang, khổ giấy nhỏ 13x18).

Nếu nói về truyền đơn, thì lúc đó ở Việt Nam xuất hiện vô số, trong phong trào kháng Pháp, đặc biệt phải nói là từ phía Việt Nam Quốc Dân Đảng. Với phương tiện và tài chánh hùng hậu nhất thời đó, cũng như con người vào giữa thập niên 20 và 30, ngoài truyền đơn kêu gọi yêu nước kháng Pháp, còn cả tin báo mỗi chi bộ tự phát hành rất rộn rịp cho việc kêu gọi gia nhập phong trào, tin chống Pháp... Để hình dung rõ hơn, vào thời điểm đó, không chỉ là tin báo, truyền đơn, Việt Nam Quốc Dân Đảng có khả năng dàn trải, đủ để mua súng đạn, và tự thành lập các nơi sản xuất bom (loại như tạc đạn ném tay) khắp tỉnh miền Bắc để xây dựng hệ thống quân chính và chiến khu.

Báo Thanh Niên, chủ yếu dựa vào sức viết của Lý Thụy là chính, được gọi là tuần báo nhưng phát hành không đều đến tay người đọc và ít gây ảnh hưởng (ảnh kèm theo), một phần cũng là tránh mật thám Pháp theo dõi. Thực tế, hai tờ báo mà đảng Cộng sản Việt Nam tạo được sự chú ý nhiều nhất là tờ Cứu Quốc (25-1-1942) và tờ Nhân Dân (11-3-1951). Mọi vấn đề của các tờ báo này đều xoay quanh trục tuyên truyền chính trị của đảng Cộng sản.

Cần phải nói thêm, công lao tạo ra những sức phát triển, khuynh hướng… cho báo chí Việt Nam, không thể không kể đến nhiều tờ khởi xướng ban đầu (bao gồm có cả ý muốn phát triển dân trí và quyền chính trị). Chẳng hạn như tờ Nữ Giới Chung (Chung có nghĩa là tiếng chuông), là tờ báo đầu tiên chuyên về phụ nữ, với chủ trương nâng cao dân trí, khuyến khích công nông thương và nhất là đề cao vai trò phụ nữ trong xã hội. Tầm ảnh hưởng của tờ báo này khiến mật thám Pháp e ngại. Tháng 7/1918, tờ Nữ Giới Chung bị đình bản. Chủ bút tờ báo này là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh (1864 – 1922). Bà là con gái thứ tư của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.

Từ hơn thế kỷ nay, báo chí Việt Nam vẫn có lệ tạo ra ấn bản báo xuân, bản đặc biệt khác với ấn bản thường ngày, nhưng ít ai nhớ rằng, người tạo ra khuynh hướng đó là học giả Phạm Quỳnh (1892-1945), ông là người tạo ra ấn bản đặc biệt chào xuân đầu tiên của người Việt Nam, và từ đó trở thành truyền thống cho đến nay. Học giả Phạm Quỳnh chết năm 1945, mà theo nhiều nguồn sử liệu khác nhau tổng hợp, là do ông khác biệt quan điểm chính trị với những người Cộng sản. Hơn nữa, vào lúc đó có tin người Pháp quay lại và xây dựng một nhà nước độc lập, lại có thể yểm trợ Phạm Quỳnh trở thành người đứng đầu. Mãi đến năm 1956, người ta mới tìm thấy thi hài của ông, trong rừng.



Giai đoạn từ 1939 đến 1947 ở miền Bắc là một bi kịch của người Việt Nam. Rất nhiều học giả, trí thức bị chụp mũ ghép tội, giết chết, thủ tiêu… không chỉ do phía người Cộng sản gây ra, mà còn từ nhiều phe phái khác nhau, bởi xung đột về lập trường Cộng sản – Quốc gia – Quân chủ.

Phóng sự đầu tiên của báo chí Việt Nam, được biết đến, là của ký giả Tam Lang. Năm 1932, tờ Hà Thành Ngọ Báo đã khởi đăng phóng sự nổi tiếng nhan đề “Tôi kéo xe” của nhà báo Tam Lang (tên thật là Vũ Đình Chí), mở đầu cho thể loại phóng sự của báo chí Việt Nam. Để thức tỉnh lương tâm trong xã hội về cái nghề khốn khó này, nhà báo Tam Lang đã nhập vai, tự mình làm kéo xe để lấy tư liệu một cách xác thực và sống động về nghề này.

Kể dài dòng như vậy, để nói rằng, Báo chí của người Việt là một thiên sử thi, độc đáo và thú vị. Lịch sử báo chí của những người Cộng sản chỉ là mảnh ghép rất nhỏ trong ấy. Nếu như nhà nước hiện nay gọi tên 21-6 hàng năm là ngày báo chí cách mạng Cộng sản, thì là điều bình thường. Nhưng nếu gọi đó là ngày báo chí chung của cả Việt Nam thì trở nên lố bịch.

Đặc biệt, ngày báo chí Việt Nam, nếu chỉ nhắc tên ông Hồ Chí Minh như một nhà báo vĩ đại, mà cố ý không nhắc tên học giả Trương Vĩnh Ký thì thật nông cạn. Ông Trương Vĩnh Ký (1837-1898) được người đương thời của ông, xếp vào danh sách 18 nhà bác học hàng đầu thế giới. Ông là người yêu thương văn học quốc ngữ và được coi là người đặt nền móng cho báo chí quốc ngữ Việt Nam.

Tháng 1/2017, cuốn sách về danh nhân này, có tên “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” do nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu tập hợp tài liệu bị thu hồi không có lý do, dù có giấy phép xuất bản. Trong sách, ông Đầu chứng minh được rất nhiều tư liệu, để thấy rằng học giả Petrus Ký là một người yêu nước, chẳng hạn như ông Nguyễn Đình Đầu trần tình "Trong những lời đối đáp khi chính quyền Pháp yêu cầu Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn, có những văn thơ chứng tỏ là Trương Vĩnh Ký rất bất mãn trong chuyện người Pháp cư xử với người Việt Nam, cho nên ông không muốn hợp tác. Tôi viết ra sau khi xin được những tài liệu mà Trương Vĩnh Ký còn chưa xuất bản mà mới chỉ là nháp".

Sau khi nắm quyền vào năm 1945, những người cộng sản có chủ trương tạo tin tức, hình ảnh để nói rằng những người có dính líu đến người Pháp, kể cả các đảng phái kháng Pháp khác, và đặc biệt là nếu không phải là có cảm tình, hoặc đi theo chủ nghĩa cộng sản đều là thành phần “tay sai”, bất chấp các dữ kiện lịch sử từ nhiều phía cho thấy không như vậy.

Lịch sử Việt Nam nói chung, bị đọa đày không nhiều thì ít, từ chủ trương này, với nhiều nạn nhân như Phan Thanh Giản, Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh… Nên ngay cả lịch sử báo chí Việt Nam, có tồn tại như thế nào, với con người nào, vẫn bị coi là vô hình hoặc vô giá trị theo quan điểm của nhà cầm quyền.

Vì vậy, ngày 21-6, cũng cần có lúc, gọi lại cho đúng tên, của hệ thống truyền thông phục vụ chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam, như đúng những gì đang diễn ra hiện nay. 21-6 hoàn toàn không đủ tư cách để thay mặt cho nền báo chí của người Việt.

Tuesday, June 16, 2020

Nguyễn Thái Học – Cái chết của chủ nghĩa dân tộc tuyệt đối



Không phải vô nguyên cớ mà lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông Nguyễn Thái Học trở nên lưu danh thiên cổ trong lịch sử Việt Nam. Cái chết của ông chỉ là một trong những điều mà các thế hệ những người Việt yêu nước phải nghiêng mình kính trọng, bên cạnh đó, còn rất nhiều điều khác nữa vẫn ít khi được nhắc tới.

Trong lịch sử hôm nay, với sự mô tả rất dè sẻn dường như có chủ ý, phần lớn người Việt Nam chỉ biết đến các bậc tiền nhân Việt Nam Quốc Dân Đảng bằng thất bại và sự hy sinh mà thôi. Các ghi chép dễ tìm thấy, chỉ gói gọn trong câu chuyện Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí của mình hiên ngang ra máy chém ngày 17-6-1930. Nhưng trên thực tế, một Nguyễn Thái Học nằm trong trái tim người Việt, còn là một nhà đấu tranh cải cách ôn hòa, trước khi chọn kháng chiến vũ trang như giải pháp cuối để dành độc lập tự do cho người Việt.

Tiền thân của Việt Nam Quốc Dân Đảng là Nam Đồng Thư Xã, với các hoạt động mở rộng tinh thần yêu nước, manh nha khởi nghĩa nhưng sức còn yếu, cho đến tháng 12-1927, khi Nguyễn Thái Học đứng ra tổ chức một hội nghị lớn, dựng nên Việt Nam Quốc Đảng (VNQDĐ) từ Nam Đồng Thư Xã thì sức phát triển nhanh đến bất ngờ. Dù nội quy của VNQDĐ là muốn được kết nạp vào đảng, phải có 2 đảng viên giới thiệu, và có sự theo dõi điều tra của Ủy ban Trinh Thám trong ít nhất nửa tháng, để tránh bị mật thám cài người.

Và ngay từ ngày đó, đã có những va chạm đầu tiên giữa VNQDĐ và các nhân sự tiền phong của đảng cộng sản từ Quảng Châu về, lúc đó Hồ Chí Minh có bí danh là Lý Thụy. Tuy nhiên, VNQDĐ vẫn nắm thế mạnh vì lúc đó nhân lực hùng mạnh đã trải rộng từ Bắc chí Nam, được phỏng đoán đến hàng chục ngàn người.  

Từ thập niên 1940 trở đi, mâu thuẫn giữa VNQDĐ và người Cộng sản ngày càng lớn, đơn giản là do chủ trương chính trị. Tiêu chí của VNQDĐ do Nguyễn Thái Học nêu ra, là “Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa. Đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ, đặc biệt là các nước lân cận: Ai Lao, Cao Miên”. Trong khi phía người Cộng sản do Lý Thụy lãnh đạo, thì muốn là một phần của cách mạng thế giới, đem chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam. Cụ thể là năm 1924, Lý Thụy từng tìm đến cụ Phan Bội Châu để xin chuyển tổ chức Tâm Tâm Xã của cụ sang tên mới là “Á tế á bị áp bức nhược tiểu Việt Nam Chi bộ”, trực thuộc “Liên đoàn các dân tộc bị trị”, nhưng cụ Phan Bội Châu cảm thấy không ổn nên từ chối.



Từ khi là thanh niên ở độ tuổi 20, Nguyễn Thái Học từng nghĩ đến chuyện thuyết phục người Pháp để thay đổi đất nước trong hòa bình – mà đời nay, ngôn ngữ thường dùng là “góp ý xây dựng, đưa đất nước tiến bộ.”. Năm 1925, viết bằng tiếng Pháp, Nguyễn Thái Học đã từng gửi cho Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varene một kiến nghị cải cách nền công thương Việt Nam, thư đề nghị xây một trường Cao đẳng về công nghệ ở Hà Nội, và một dự án chi tiết về cải cách giúp cho dân nghèo Việt Nam. Nhưng nhiệm kỳ của Alexandre Varene rất ngắn ngủi (chưa đến 6 tháng - https://bit.ly/37AfdA7) nên ông này không để tâm.

Tháng 6-1927, Nguyễn Thái Học còn gửi đơn đến thống sứ Bắc Kỳ để xin phép mở một nguyệt san với mục tiêu trí-đức-thể-dục cho người Việt, có tên là Nam Thanh nhưng cũng bị nhà cầm quyền từ chối. Thật ra lúc này Nguyễn Thái Học đã bắt đầu bị mật thám lưu ý, và coi là thành phần có khả năng tuyên truyền chống chế độ, xâm phạm lợi ích của tổ chức, công dân thuộc nhà cầm quyền.

Nói như vậy để biết, mọi người yêu nước đều bắt đầu với tinh thần ôn hòa, muốn đóng góp để xây dựng đất nước. Nhưng khi họ bị chà đạp, bị áp các điều luật mơ hồ, bỏ tù… thì nguồn năng lượng tự nhiên đó, sẽ biến từ kiên nhẫn ôn hòa sang những hình thái khác. Lịch sử cho thấy rõ như vậy.

Không phải chỉ Nguyễn Thái Học, mà những đồng chí can trường của ông cũng chưa bao giờ là người quen cầm súng hay ném bom. Hầu hết là tuổi trẻ trí thức nhưng sẳn sàng hy sinh để bảo vệ lý tưởng và chống lại cường quyền, đứng về phía nhân dân. Phó Đức Chính, người vẫn mỉm cười, bước lên cùng chịu chém đầu vào ngày 17-6, đã dũng liệt lặp lại lời của Nguyễn Thái Học “Cờ độc lập phải nhuộm bằng máu. Hoa tự do phải tưới bằng máu. Không thành công thì thành nhân”. (tài liệu của đảng viên VNQDĐ Hoàng Văn Đào ghi, 1970, một phần đăng trên tuần báo Tân Dân).

Còn Nguyễn Khắc Nhu khi bị Pháp vây ở Lâm Thao, đã chống trả quyết liệt. Nhưng rồi ông bị đạn trúng chân, biết mình không thoát được nên rút lựu đạn tự sát. Không may lựu đạn lại nổ yếu khiến ông chỉ bị thương nặng, ruột lòi ra đến ngoài. Lính Pháp băng lại, gánh bằng võng về đồn binh Hưng Hóa để xử tội. Khi đi ngang sông, ông nhào xuống để tự tử nhưng rồi cũng bị bắt lại.

Sử ghi lại rằng, phó công sứ tỉnh Phú Thọ là Chauvet vào đồn công an đang giam Nguyễn Khắc Nhu để thẩm vấn, hỏi rằng “Vì sao ông làm loạn?”. Ý của viên phó công sứ là đã cho cuộc sống yên ổn, sao còn thừa cơ xuống đường phạm tội gây rối trật tự công cộng hay tập trung đông người. Nguyễn Khắc Nhu đã đáp tức thì rằng “Người Việt Nam tức có bổn phận bảo vệ nước Việt Nam. Đó là lẽ phải và đạo làm người, sao lại là loạn?”.

Ngay khi dứt cuộc thẩm vấn, Nguyễn Khắc Nhu đập đầu vào tường trong đồn công an tự tử chứ không chịu nhục. Viên lính canh nhìn qua ô cửa la lên, nhưng không vào kịp. Sau đó y kể lại rằng Nguyễn Khắc Nhu phải đập đầu đến lần thứ ba mới chết.

Nguyễn Khắc Nhu có biệt hiệu là Song Khê, thi đậu đầu xứ Phủ Lạng Thương, thuộc Bắc Giang nên được người đời còn lại là Xứ Nhu. Con trai của ông là Nguyễn Khắc Trạch, sau cũng theo cha, là đảng viên VNQDĐ, vừa đi làm ký giả vừa làm cách mạng. Năm 1945, ông Trạch cũng tử trận ở Sơn Tây, khi mâu thuẫn giữa VNQDĐ và đảng CSVN lên cao trào và xảy ra giao tranh liên tục.

Khi bị bắt, và bị giam ở Yên Bái, Nguyễn Thái Học có gửi hai lá thư cho các nghị sĩ Quốc hội Pháp và Toàn Quyền Đông Dương là Pierre Pasquier, nhưng lá thư ấy, bị trại giam chơi đòn hèn hạ giấu lại, không đến được nơi. Sau này, ký giả Louis Roubaud tìm thấy và đăng lại trên báo chí Pháp. Tờ Xưa & Nay của nhà nước hiện nay cũng có đăng lại bản tiếng Việt trên số 332 tháng 5/2009, với bản dịch có chút khác biệt (xin xem bản tiếng Pháp đi kèm theo bài). Nội dung được dịch như sau:

“Thưa các ông Nghị,
Theo lẽ công bằng, quyền của mọi công dân là muốn giải phóng dân tộc. Theo nhân bản luận, bổn phận mọi cá nhân là cứu trợ đồng bào cực khổ. Tôi đã trông thấy gì? Đã 60 năm tổ quốc tôi bị đặt vào vòng nô lệ của các ông. Giòng giống tôi bị đe doạ bởi cuộc sinh tồn. Tôi có quyền, vậy thế, là bổn phận bảo vệ xứ sở đồng bào tôi.
Khởi đầu, ý nghĩ của tôi là muốn đi đến mục đích hợp tác với các ông. Những thế cờ ấy nhắc lại, cho tôi biết rõ rằng những người Pháp không muốn thành thật trong công cuộc hợp tác ấy. Và như thế tôi không thể phục vụ cho đồng bào tôi dài lâu, nếu các ông vẫn làm chủ trên xứ sở này. Năm 1927, tôi lập đảng phái quốc gia An Nam và hành động về  1/ đuổi Pháp ra khỏi lãnh thổ  2/ thành lập một chính phủ cộng hòa An Nam trên căn bản thành thật dân chủ.   
Tôi sẽ chịu mọi trách nhiệm về cá nhân tôi qua các biến động chính trị trên xứ sở này, kể từ ngày tôi thành lập đảng. Chỉ có tôi và chính tôi là thủ phạm, sự hành hình riêng tôi là đủ, tôi xin ân xá cho những người khác.
Điều ở đây tôi muốn nói với ông rằng, những người Pháp muốn chiếm Đông Dương yên ổn, thì từ đây trở đi, không muốn gặp một phong trào cách mạng nào, các ông phải:
1. Bỏ tất cả các phương pháp dã man vô nhân đạo
2. Cư xử với An Nam như bạn, chứ không phải là chủ ác độc.
3. Cố gắng giảm bớt sự đau khổ tinh thần và vật chất, xây dựng cho người An Nam quyền sơ đẳng cá nhân.
4. Không thể làm ngơ trước sự hối lộ của viên chức và tính xấu của họ.
5. Phải cho dân An Nam học hỏi phát triển thương mãi và kỷ nghệ của các ông
Xin các ông Nghị nhận nơi đây sự biểu tỏ tình cảm kính mến của tôi
Địch thủ của các ông, nhà cách mạng
Ký tên: Nguyễn Thái Học

(Bản dịch được ông Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc, chủ nhiệm Tuần báo Tân Dân, miền Nam VNCH hiệu đính năm 1969)



Saturday, June 6, 2020

NXB Tự Do: “Hiểm nguy, nhưng không ai trong chúng tôi muốn dừng lại”


Khởi đầu, có vẻ như Nhà xuất bản Tự Do (NXB) chỉ là nơi ấn hành các tác phẩm muốn được đến tay công chúng, mà không cần sự cho phép nào của hệ thống kiểm duyệt. Thế rồi, những diễn biến dồn dập trong năm 2019, đã đẩy Nhà xuất bản Tự Do vào vị trí tự bảo vệ sự sống còn của mình, và trở thành một biểu tượng tranh đấu cho quyền tự do tri thức.
Chính vì sự can trường và không nhụt chí của những người bạn trẻ hoạt động cho Nhà xuất bản Tự Do, cũng như sự ủng hộ của đông đảo độc giả Việt Nam trong và ngoài nước, mà tổ chức IPA ngày 5/6 đã trao tặng giải Prix Voltaire 2020 cho họ, những ngưởi ẩn danh nay rất nổi tiếng.
Ngay sau khi NXB Tự Do nhận được giải này, công an đã ập đến gia đình cô Đoan Trang để bắt mẹ cô phải ký giấy xác nhận là Đoan Trang đã vi phạm pháp luật. Nhiều năm nay, cô Phạm Đoan Trang đã không thể về nhà trong sự theo dõi và vây bắt ngày càng nguy hiểm của công an Hà Nội. Nhưng tuy vậy, cô vẫn không ngừng công việc của mình, mới đây, lại chính thức nhận trách nhiệm là đại diện vận động truyền thông của NXB Tự Do.
----------------
*** Giải thưởng này, trong bối cảnh đang bị vây hãm như vậy,bên cạnh niềm vinh dự, thì có là một gánh nặng cho Đoan Trang và Nhà xuất bản Tự do không?
--- Chúng tôi rất mừng, kể cả từ lúc được đề cử. Vì giải thưởng là chung cho NXB nhưng cũng là niềm khích lệ cho phong trào dân chủ tại Việt Nam. Cả hai, NXB và phong trào dân chủ đang bị đàn áp dữ dội, từ năm 2020 càng dữ dội hơn. Nói cách nào đó, chúng tôi cũng quen rồi. Từ năm 2019, khi thành lập đến giờ thì NXB luôn bị sức ép từ nhà cầm quyền, và chỉ tăng lên chứ không giảm đi bao giờ (cười), nên rồi cũng thành quen.
*** Nói về đàn áp hay sức ép với NXB, trải qua nhiều sự kiện, rõ ràng nhà cầm quyền không dùng luật, mà hành xử rất thô bạo. Đã bao giờ NXB thắc mắc và lên tiếng, chính thức đòi hỏi sự hành xử đúng mực, hay nhờ luật sư khởi kiện với các vụ đánh shipper (người giao sách)…?
--- Ngay từ khi được thành lập vào ngày 14-2-2019, chúng tôi luôn bị đàn áp và có vẻ như coi chúng tôi không phải là người (cười) chứ đừng nói đến là công dân hay nhóm được hiến pháp bảo vệ về quyền. Họ từ chối đối thoại. Họ đối xử với tác giả, shipper rất tàn ác. Có một thời gian, họ bắt bớ luôn cả những độc giả, nên chúng tôi khi tư vấn pháp lý cho độc giả cũng đã nghĩ đến chuyện nói chuyện luật với Nhà nước nhưng rồi lại thôi. Vì họ không biết lắng nghe. Chúng tôi có nói rõ với các độc giả là khi nào Nhà nước lên danh sách cấm, và có tên các cuốn sách mà quý vị đang cầm thì công an mới có quyền hỏi đến. Và ngay cả khi họ cấm, thì họ cũng phải giải thích rõ vì sao cấm. Thế nhưng, như anh biết, công an cứ im lặng đàn áp, mà không cần một lý do nào.
*** Được biết các vụ tra hỏi shipper và độc giả rất gay gắt, thậm chí đánh đập tàn nhẫn, mà mục đích là truy tìm NXB ở đâu, có bao nhiêu người, hoạt động thế nào… Đã có bao giờ các anh chị em trong NXB nghĩ đến tình huống mình bị bắt, và điều gì sẽ xảy ra không?
--- Chúng tôi có thể cảm nhận được sự căm thù, hay căm ghét của họ đến mức nào. Lâu nay, với những người vào tầm ngắm của công an, thì còn được giấy mời, triệu tập… nhưng với NXB hay đối với chính tôi, thì chưa bao giờ được giấy tờ gì, chỉ nhìn thấy, nghe nói… là xông vào bắt, đánh ngay, đưa về đồn. Những Shipper cũng bị vậy. Lôi lên xe là họ đánh trước, mở mắt không nổi, rồi mang về đồn đánh tiếp. Đánh như đánh kẻ thù. Nên với công việc của NXB như hiện nay, cứ tiếp tục thì tương lai nếu ai trong NXB bị bắt thì chỉ có nặng hơn, chứ không thể nhẹ hơn (cười).
*** Vừa rồi, anh Phùng Thủy, một shipper cộng tác không thường xuyên với NXB nghe nói cũng đã bị bắt, bị tra tấn đến sau đó phải đi cấp cứu vị hộc máu liên tục. Nay thì sức khỏe anh ra sao? Và phía công an có để yên cho anh ta, sau khi đã hành động vô nhân tính như vậy hay không?
--- Anh Phùng Thủy bất ngờ chạy đi, ở ngay trước cửa công an trên đường Trần Hưng Đạo, Quận 1, Saigon, khi bị 2 công an viên kèm ra cửa để nhận thuốc cho con gái mang tới. Lúc ấy là 3g sáng. Nhìn thấy sự lơi lỏng của người đi theo, anh nhảy lên xe máy của con gái, rồ ga, chạy đi. Đó là anh Phùng Thủy tuyệt vọng nên làm liều, nhưng may sao thoát được. Ngay cả phía công an cũng bất ngờ nên ít giờ sau đã ập đến nhà anh tìm kiếm. Thậm chí cử người đi về quê để đe dọa mẹ già của anh, nay đã 90 tuổi, để anh ra trình diện. Hiện công an vẫn còn truy tìm, và nói với những người mà họ gặp, là anh Phùng Thủy bị truy nã nhưng không đưa ra được giấy tờ gì, cũng không nói là truy nã vì chuyện gì.
*** Nhiều người nhận định rằng việc Đoan Trang nhận công việc vận động truyền thông cho NXB là một điều mới mẻ, cũng là một bước đi chính trị rất thú vị khi đang bị vây đuổi như hiện nay, nhưng điều đó có tăng nguy cơ đàn áp với Trang không?
--- Về mặt Marketing thì mọi nhóm hay tổ chức đều cần đến việc vận động truyền thông. Chúng tôi cũng không muốn những cuốn sách khô cứng là sản phẩm, mà muốn personalized – hay gọi là nhân hóa – để những tác phẩm đó gần gũi hơn, đến nhanh hơn với bạn đọc. Vì nghĩ đến điều đó, và muốn giúp cho các bạn nên tôi nhận lời. Còn nếu nói về chuyện bị đàn áp, thì lâu nay họ đã hành động không ra gì rồi, thì có thêm không ra gì, chắc cũng như vậy thôi (cuời). Nhưng chắc họ sẽ truy tìm gắt gao hơn (Chú thích của người phỏng vấn: từ nhiều năm nay, Phạm Đoan Trang vẫn rày đây mai đó, để tránh sự lùng bắt của công an, dù cô không có tội gì, chính thức cho đến lúc này)
*** Vậy trong bối cảnh rất khó khăn, NXB dự định sẽ có kế hoạch hoạt động như thế nào trong năm nay?
--- Chúng tôi vẫn có kế hoạch ra sách mới. Bởi người tham gia xuất bản, người muốn đọc vẫn không ngừng tăng lên. Đặc biệt khi ở trong đất nước có quá nhiều điều cần phải được viết ra, in ra, có quá nhiều vấn đề cần được diễn giải đúng… Nói về phía NXB thì luôn luôn phải hoạt động. Nhưng với tình trạng khó khăn, chúng tôi có thể tạm giảm một số các hoạt động để bảo an. Nhưng đáng mừng là dù hiểm nguy, nhưng không ai trong chúng tôi muốn dừng lại, không ai muốn bỏ cuộc cả.
(ghi)

Wednesday, May 20, 2020

Nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình & điều chưa kể hết



Tháng 5/2020, tù nhân lương tâm Trần Vũ Anh Bình chấm dứt thời gian quản chế của mình. Một thời gian thật dài đăng đẳng, với nhiều lần anh bị chính quyền địa phương triệu tập, phạt, nhắc nhở... về những sinh hoạt thường ngày của anh. Thậm chí, vì những việc anh không hề bước chân ra khỏi nhà, như tự post một video lên trang mạng.
Nhưng kết thúc thời gian quản chế, cũng không có nghĩa là anh có thể hoàn toàn rũ bỏ bản án 6 năm tù, 3 năm quản chế mà nhà cầm quyền áp đặt cho anh từ năm 2012, một bản án dành cho ý thức chính trị của Bình. Không giống với tất cả những gì chúng ta vẫn thường thấy trên bề mặt luật pháp thường được mô tả tại Việt Nam, Trần Vũ Anh Bình sẽ mãi mãi là công dân "hạng hai" trên đất nước này, vì anh không thích chủ nghĩa cộng sản, ít nhất cho đến khi có một thể chế mới.
Bình không phải là một trường hợp ngoại lệ. Ở Việt Nam vẫn có những con số bán công khai cho biết về những người là công dân "hạng hai" như vậy. Theo báo cáo mới nhất về vấn đề đàn áp tự do tôn giáo (2020) do Ủy Ban USCIRF của Hoa Kỳ thu thập được, thì có đến hàng chục ngàn những người dân tộc thiểu số H'mong, Jarai... sống vất vưởng vì niềm tin của mình. Họ không được cấp các giấy tờ chứng minh là một công dân để yên ổn sinh tồn. Cuộc đời của họ, con cái của họ là những thế hệ "hạng hai" tiếp nối.
Tôi đã ghi nhớ, rất nhiều trường hợp anh chị em, hay con cái của những tù nhân lương tâm, hay gia đình của những người bất đồng chính kiến đã phải sống một cuộc đời "hạng hai" như vậy. Họ không được xuất ngoại, đi du học hay đi làm thêm, thậm chí cả kết hôn. Còn ở trong nước, nếu như làm những công việc tạm bợ, tay chân kiếm sống qua ngày, có thể họ sẽ sống yên. Nhưng nếu có một ước mơ vươn cao hơn, đi làm cho một công ty nước ngoài, hệ thống nhà nước... số phận của họ là may rủi khi nhân viên an ninh đến tận nơi để nhắc nhở rằng không nên thu nhận những người như vậy. Tên gọi chung cho các loại của quản chế vô thời hạn đó, được nhân danh là vì "vấn đề an ninh quốc gia".
Về Trần Vũ Anh Bình, câu chuyện của anh là một chuyển biến bí mật, sôi sục và thú vị, mà mỗi khi nhớ lại, tôi luôn cảm thấy lạ lùng. Suốt những ngày tháng của tuổi trẻ, chọn âm nhạc như một con đường của đời mình, tôi luôn quan sát những người bạn nhạc sĩ trẻ hơn mình, chung quanh mình xem có ai biết sống với hiện thực, có ai khác biệt trong cuộc đời đầy mê hoặc danh lợi này không. Bình là một nhân vật gây chú ý, vì anh im lặng từ bỏ cuộc sống êm đềm và có thể nhiều hứa hẹn với showbiz của nhà nước.
Bình là một nhạc sĩ sinh ra và được kèm cặp trọn vẹn trong môi trường xã hội chủ nghĩa. Khi anh gặp tôi - Bình loanh quanh nói những điều nhạt nhẽo, tôi cũng đáp lại bằng những điều nhạt nhẽo. Thỉnh thoảng nói xa gần một điều gì đó. Sau này nhớ lại, tôi mới hiểu rằng lúc đó, tôi và Bình đều thăm dò nhau, xem người đối diện như thế nào, có tương thích về quan điểm chính trị hay không.
Xã hội Việt Nam lúc đó đang trong cơn chuyển mình về nhận thức. Bên cạnh việc tiếp nhận làn sóng thông tin tự do không kiểm duyệt ngày càng nhiều qua internet, việc thể hiện sự khác biệt quan điểm chính trị với nhà cầm quyền cũng được nhiều tầng lớp dân chúng bộc lộ mạnh mẽ. Không chấp nhận việc đảng Cộng sản nhân nhượng với Bắc Kinh, phản đối việc ngư dân bị đánh đập, bức hại trên biển... Các phong trào dán biểu ngữ "HS-TS-VN", xuống đường biểu tình đã xuất hiện liên tục. Sinh khí của xã hội bừng bừng.
Bình là nhân tố trong làn sóng đó. Anh hát và biểu lộ chính kiến trong khi các đồng nghiệp chung quanh mơ về ánh đèn sân khấu. Rồi cái án tù đến với anh thật nghiệt ngã và bất ngờ. Nhưng ngược lại, trong không gian tù túng đó, tinh thần anh lại lớn hơn, mạnh mẽ hơn nhờ làm bạn và chia sẻ với những người can trường, chung suy nghĩ như Trần Huỳnh Duy Thức.
Một lần đến nhà gửi quà thăm nuôi, nhìn thấy mẹ của Bình run rẩy và câm lặng vì buồn. Anh chị của Bình khi đi thăm nuôi cũng nói lại. Nghe mẹ buồn, Bình cũng dàu dàu, nhắn lại với chị rằng "em chỉ có một tội là yêu nước, chứ không có tội gì khác hết". Không hiểu sao, tôi cứ nhớ về lời nhắn này của Bình gửi về nhà.
Tôi đã chứng kiến rất nhiều sự câm lặng của các người mẹ, người chị như vậy trong khoảng thời gian dài, đi tìm hiểu về các gia đình tù nhân lương tâm. Sự run rẩy hay im lặng của họ mà tôi nhìn thấy mang ý nghĩa khác: nó không là sự sợ hãi, mà đó là cả một vùng trời tích tụ đầy sấm sét và phẫn uất.
Khi bị gọi lên làm việc về một bài viết mà tôi mô tả những điều nhìn thấy, người công an viên đã hỏi tôi rằng nhỡ như người ta làm bộ như vậy chứ không phải bị câm lặng thật thì sao? Tôi cũng rơi vào một trạng thái tương tự - câm lặng -vì không thể mô tả đủ bằng ngôn ngữ cho người công an viên đó biết rằng sự phẫn uất và tuyệt vọng của những người mẹ, khi tập hợp đủ, nó là thứ năng lượng có thể hủy diệt mọi cái ác trên đời này. Tôi đã đứng trước nó, tôi biết năng lượng đó, sức mạnh của sự im lặng đó là gì.
Tôi chưa bao giờ nói với Bình suy nghĩ này của mình, là những ngày đầu tiên tiếp xúc, sau khi Bình mãn hạn tù giam, trở về nhà, tôi lo ngại vì nhận ra rằng Bình giống như mất khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ. Để nói một, hai câu, mô tả một sự việc đơn giản, Bình đã ê a rất lâu mới có thể hoàn thành được. Có vẻ như sự dồn nén đủ điều của Bình, cũng khiến anh thích nghi với im lặng - giống như người mẹ ở nhà.
Nhưng giờ thì mọi thứ đã đổi khác. Bình mạnh hơn và vững chãi hơn. Anh xuất hiện hàng tuần trên kênh video của mình để nói về cuộc sống. Mọi thứ trước mắt Bình hay tôi đã thay đổi cũng giống như những người chịu oan khiên, những người bị bắt về vấn đề bất đồng chính kiến, tôn giáo... ngày hôm qua không ai biết đến, nhưng hôm nay họ đang được nhắc đến bằng những hồ sơ chi tiết, mở ra với cả thế giới. Biết đâu khi chúng ta phóng tầm mắt nhìn, vượt qua bên kia bờ sợ hãi, điều nhìn thấy có thể khiến mình tự tin hơn trước tương lai.
Bình không chấp nhận vị trí công dân hạng hai mà người ta áp đặt cho mình. Anh không ngần ngại vượt rào khi cần thiết trong thời gian quản chế, để chứng minh rằng mọi thứ áp đặt cho anh là vô nghĩa. Cũng như rất nhiều người mẹ, người chị, những đứa con... mà tôi nhìn thấy, mới ngày hôm qua còn chưa biết chính trị là gì, mặt xanh tái khi thấy tờ giấy mời của công an, thì hôm nay đó là những người chững chạc và can trường, đối diện và lên tiếng với nhà cầm quyền để đòi công lý cho gia đình, người thân của mình. Họ cũng không chấp nhận một thể chế, với quy chế ngầm về những công dân hạng hai, thô bỉ như vậy.
Những con người tôi kể trên, đang góp dần năng lượng của đám mây sấm sét khổng lồ, góp số phận của mình vào một thời đại thay đổi phải đến.
Đất bước này phải thay đổi, thể chế này phải thay đổi. Chỉ có thể tồn tại một đất nước dành cho những công dân tự do, chứ không thể là điều gì khác hơn. Công Dân hạng hai – như trong những câu chuyện mà tôi đã nghe, đã thấy, phải mãi mãi phai tàn cho tương lai tốt đẹp hơn, hoặc sẽ sừng sững đời đời, như bia mộ sỉ nhục dành cho kẻ ác.

--------------

Tham khảo bản báo cáo của USCIRF (Hoa Kỳ) bản tiếng Việt, tại đây. https://bit.ly/3cOgbdP

Friday, May 1, 2020

Ghi lại một câu hỏi đã cũ



Người đánh giày xuất hiện mỗi buổi sáng, qua lại trước mắt tôi đến quen thuộc. Hình ảnh đó tạo thành một thói quen, là cứ mỗi khi bước vào quán cafe cóc, tôi lại nhìn xem ông ở đâu.

Người đánh giày, có một gương mặt thật điềm đạm và nhẫn nại. Ông luôn xuất hiện với chiếc áo bộ đội màu xanh lá mạ cũ mềm, quần tây sẫm màu đã sờn và đôi dép tổ ong, tay xách theo chiếc hộp đồ nghề.

Ông ít khi mời tôi đánh giày. Cái lối ăn mặc xuềnh xoàng của tôi, có lẽ khiến ông tin rằng đánh giầy đánh dép là chuyện miễn cưỡng của tay đầu trọc kính cận ấy, vốn chỉ luôn chăm chú nhìn vào máy điện thoại.

Có một lần, ông ghé qua hỏi chỉ vừa đủ nghe "anh đánh giầy không?". Giọng ông trầm, nhẹ nhàng, phảng phất chất Bắc mà ông thầy dạy nhạc của tôi vẫn hay nói. Giọng nói của một người tử tế, kiếm sống với tự trọng. Có thể ông cầm bút trước khi phải cầm súng.

Không hiểu sao tôi rất thích nhìn theo ông. Công việc của ông chỉ loanh quanh ở khu vực có quán cóc mà tôi ngồi. Có khách mới đến thì ông đứng lên mời, rồi cười, khi bị từ chối và quay về góc nhà, nơi có chiếc ghế nhỏ của ông. Trong trang phục rất biểu trưng bộ đội, giống như hàng hàng đàn ông khác nói giọng Bắc và từ phương khác đến miền Nam, nhưng với ông có cái gì đó rất khác khi ông im lặng, ngồi nhìn ra đường lúc chờ khách.

Ông làm tôi nhớ đến những ngày đến trường, chuẩn bị thi đại học. Con đường băng qua ngã tư nhỏ gần công viên Tao Đàn để đến chỗ luyện thi, tôi hay nhìn thấy một người đàn ông đạp xích lô với mái tóc hoa râm, đeo kính dày chắc phải trên chục diop. Có vẻ như ông không thích công việc của mình vì gương mặt ông rất ít khi có được nụ cười. Ông cũng nhẫn nại ngồi chờ khách, lưng áo đẫm mồ hôi vào những trưa hè bức bối. Chỉ biết ông là một người miền Nam sa cơ trong thời cũng đầy bức bối.

Ấn tượng cuối cùng của tôi về ông (mà sau này không gặp lại) là một buổi trưa đi sớm, tôi bắt gặp ông nằm ngủ ở vỉa hè, trước cửa ngôi nhà ai đó đang khóa bằng xích. Ông lót đầu bằng một cuốn sách. Bên cạnh, mắt kính của ông đặt trên một cuốn sách tiếng Pháp, như ông đang đọc nửa chừng. Tôi đọc được tên tác giả là Marcel Proust, một nhà văn lớn của thế kỷ 20.

"Chú biết tiếng Pháp?", tôi hỏi trong buổi chiều hôm đó. Ông ừ nhỏ trong miệng, báo hiệu không muốn nói gì thêm, cũng như không muốn nối tiếp một cuộc chuyện trò có thể dẫn đến khai mở đời mình.

Người đánh giày và người đạp xích lô đó, là những cuốn sách đóng kín đối với tôi - dù không thể mở ra, không đọc được - Nhưng tôi tin chắc đó là những ghi chép ít niềm vui và hiện thực nhất của đất nước này.

Người đàn ông mặc chiếc áo bộ đội, sau khi khi chấm dứt chuyện phải mang vác sứ mạng giải phóng của mình, đã chọn ở lại, sống với người dân ở vùng đất mình cầm súng đến ngày hôm qua, phong kín đời mình bằng nụ cười và im lặng.

Người đàn ông đạp xích lô đọc sách tiếng Pháp đã không thể rời đi nơi nào khác, nhưng lại bị buộc phải dịch chuyển một cách bất đắc dĩ vào một thân phận không quen, với dấu vết tri thức như một căn cước của dày vò về nơi chốn.

Số phận những con người Việt như vậy đó, vẫn tồn tại âm thầm, bí mật lơ lửng chung quanh quỹ đạo sống náo nhiệt của chúng ta, qua rất nhiều ngày tháng. Số phận như hạt li ti aerosol không hại nhưng thỉnh thoảng vẫn khiến ta hắt hơi và chợt chạnh lòng khi nghĩ về hai chữ Việt Nam.

Vào một ngày, tôi thấy người đánh giày ngồi im lặng trước một ly cafe. Mắt ông hướng ra đường, trầm tư, nhìn mà không nhìn gì cả. Tôi gọi cô chủ quán và nói khẽ là sẽ trả tiền luôn cho cả ông. Cô chủ quán, có người nhà từng đi học tập cải tạo sau 1975, cười và thì thầm "anh đừng lo, mỗi khi chú ấy gọi cafe, em vẫn mời và không nhận tiền".

Thật thú vị. Tôi đã tưởng chừng mình là một người tử tế, nhưng có đầy những người tử tế - im lặng - hơn tôi ngoài kia.

Người Việt vẫn luôn đáng yêu, khi họ không bị xích xiềng vào một lý tưởng hay xô vào một cuộc chiến do bọn làm chính trị dựng nên, sơn phết nên.

Người Việt vẫn nghĩ đến nhau bằng tấm lòng, tử tế khi trái tim không bị cấy đặt thù ghét hay sợ hãi, khi ý thức mình chỉ là nạn nhân, bị xô vào những khát vọng không có gương mặt con người.

Tôi băng qua ngã tư về nhà, nhìn thấy chiếc thùng đựng nước miễn phí mát lạnh, mỗi ngày vẫn được lặng lẽ đặt ở vỉa hè. Không ai biết được sự tử tế ấy đều đặn đến từ đâu, kể cả trong những ngày bị giãn cách vắng hoe vì dịch Covid-19. Và chắc cũng không ai đặt thùng nước ở đó, để đếm xem bao nhiêu người đã nhận được. Chỉ nghĩ cho nhau thôi đã là đủ. Sự tử tế có thật, không phân loại hay chọn lựa. Sự tử tế mở lòng đợi chờ. Tử tế như nụ cười bí mật, hiền lành của cô chủ quán cafe.

Và bất chợt, tôi lại nhớ đến người đàn ông đạp xích lô có cuốn sách tiếng Pháp. Ông đã nhận được sự tử tế nào trong những ngày tháng cay nghiệt và bức bối ấy? Và giờ ông đã về đâu?