Monday, June 24, 2019

Cái ác hợp pháp



Trong một tweet của Hoàng Chí Phong gần đây, anh gửi lên một tấm ảnh về lực lượng trấn áp mặc áo đen, có chỉ dấu riêng. Đây là lực lượng bị nhiều người Hồng Kông thắc mắc vì đó là những người đánh đập người biểu tình tháng 6 năm 2019, hết sức tàn bạo. Đánh đến mức mà cảnh sát áo xanh quen thuộc của Hồng Kông phải chạy đến can.

Tấm ảnh trên twitter của Hoàng Chí Phong, cho thấy nhân vật trấn áp nở nụ cười khoái trá. Nó kỳ lạ và khác biệt với hàng trăm ngàn người biểu tình đang xao xuyến trước tương lai mơ hồ của họ.
“Loại người gì mà chĩa vũ khí vào dân chúng mà cười như vậy?”, Hoàng Chí Phong đặt một câu hỏi, có vẻ ngạc nhiên, và pha lẫn sự tức giận.

Nhưng câu hỏi đó, không phải chỉ người Hồng Kông biết, mà thậm chí những người Việt Nam cách một bờ đại dương, cũng biết. Nụ cười đó quen thuộc lắm. Nụ cười thỏa mãn của cái ác hợp pháp. Nụ cười có hình dáng con người, nhưng thật ra, đó là một giống loài khác.

Nụ cười đó, nhắc nhiều người Việt Nam nhớ những ngày tháng họ xuống đường đòi một môi trường trong lành, đòi một chính sách của lòng dân, đòi kẻ thù xâm chiếm quê hương phải biết rõ sự căm hờn đang dồn nén… thì cũng là lúc những lực lượng đàn áp cũng xuất hiện các nụ cười như vậy.

Những kẻ cầm bộ đàm oai phong trong trận càn với quân thù, những nhân vật ngồi quan sát… họ có chung một nụ cười ấy, của cái ác hợp pháp.

Ở công viên Tao Đàn, mùa hè năm 2018. Có những người rất trẻ, họ cũng cười như vậy và đánh đến nôn ra máu, đánh đến hôn mê những có tuổi như chị, như mẹ, như anh của họ. Những trận đòn thay phiên và hả hê thú tính ấy, như muốn chứng minh rằng cái ác hợp pháp, hay cái ác mặc áo lý tưởng ấy chính là đỉnh cao của cách mạng.

Những người bạn trẻ ở Hồng Kông cũng góp bình luận của mình vào tweet của Hoàng Chí Phong bằng những đoạn video quay được các lực lượng lạ lùng ấy rượt đuổi, và khi bắt được một ai đó thì tất cả bu bám và đánh bằng dùi cui không hề thương xót. Ngăn cản một cuộc biểu tình có vẽ như là chuyện phụ, nhưng thỏa mãn thú tính, mới là chuyện chính.

Năm 2015, ông Nguyễn Văn Lía, một nguyên lão của đạo Hòa Hảo Thuần Túy khi đi dự lễ tưởng niệm thầy vắng mặt ở An Giang. Ông bị chận ở một ngã ba đường vắng. Nơi đó nhiều đệ tử của Hòa Hảo đi dự lễ đã bị đánh và nằm quằn quại trên đường. Viên công an chỉ huy nói ông phải quay lại, nếu không sẽ bị đánh như vậy. Thấy mình tuổi cao sức yếu, và cũng không thể vượt qua được hàng hàng lớp lớp công an hung hăng đó, ông Lía quay về, nhưng đi chưa được mười bước, chính viên công an đó đã xông lại đạp ông ngã chúi xuống mương lộ. Đạp xong, viên công an ấy cười.

Tháng 6 năm 2018, Chánh trị sự Hứa Phi, nguyên lão của Đạo Cao Đài Chơn Truyền ở Lâm Đồng, vào chiều tối khi nghe có người gõ cửa tìm, ông ra đón thì hơn chục người của nhà cầm quyền đạp cửa xông vào đánh đập ông đến bất tỉnh. Những người đó thay phiên lấy kéo, dao cạo… cắt râu và cắt tóc của ông, và cười.

Năm 2019, nhà báo tự do Thư Lê đột nhiên bị công an tỉnh Đồng Nai bắt giữ khi cô đang ở Tây Ninh, vu khống cô vượt biên giới. Những công an viên vây quanh, tra vấn, cho lột đồ khám xét. Viên công an ở Đồng Nai cợt nhã ve vuốt cô, khi bị phản ứng trừng mắt đe dọa. Sau đó tài sản cá nhân của cô nhà báo tự do nghèo khó bị cướp sạch. Viên công an Đồng Nai khi rời khỏi phòng thẩm vấn, nhìn cô và cười.

Cũng như gương mặt cười của tay đặc vụ Trung Quốc được cử sang Hồng Kông để đánh đập, để vui niềm vui dã thú… những nụ cười ấy cũng xuất hiện ở Việt Nam. Và tất cả, chắc chắn đều phải có chung một cảm giác rất đặc biệt về cái ác hợp pháp. Họ - dù khác quê hương và tiếng nói, ắt cũng đều cảm thấy chung một sự khác biệt với con người.

Trong Animal Farm của  George Orwell, những con heo nhỏ bị bắt đi. Được dạy và sống theo một lý tưởng mới, khi quay lại, chúng là sức mạnh và nụ cười của kẻ ác cầm quyền. Vẫn có hình dáng là heo, nhưng chúng đã là một thứ súc sanh khác.

Những cái ác hợp pháp vẫn xuất hiện ở Việt Nam, khắp nơi. Từ sau các chấn song nhà tù ở những vùng khắc nghiệt nhất, cho đến tiếng xua đuổi tại vườn rau Lộc Hưng, hay, hay tiếng máy xúc ở chùa Liên Trì. Trong câu chuyệ kể về vụ cướp đất của dân tại Thủ Thiêm, những người có nụ cười ấy cũng đã hỏi người dân rằng “muốn đất hay muốn mất mạng?”.

Sẽ rất vô nghĩa khi chúng ta bàn về luật pháp, nói về tòa án… hay nói về tương lai của một dân tộc, khi cái ác hợp pháp đang là điều hiển nhiên được hậu thuẫn từ nhà cầm quyền. Câu chuyện Hồng Kông là một ví dụ rõ - những lời kêu gọi yêu thương, chia sẻ và góp sức cho chính quyền xây dựng đất nước… sẽ luôn chỉ là phần biếm họa của sách giáo khoa lịch sử, về triều đại hợp pháp của cái ác.

Sunday, June 23, 2019

Nhà tù không phải nơi để hủy diệt nhân tính



Lời kể của chị Kim Thanh, vợ của tù nhân Trương Minh Đức tại trại giam Thanh Chương, Nghệ An, là một điểm nhấn tàn bạo khó tin về hệ thống nhà tù tại Việt Nam. Chuyện thật mới mẻ, chỉ vào giữa tháng 6/2019 thôi, chỉ chưa đầy nửa năm, sau khi đại diện của Nhà nước Việt Nam khẳng định trước Liên Hợp Quốc rằng không có chuyện đối xử tàn tệ hay tra tấn tù nhân.
“Chắc anh không thể còn về được để gặp em”, nhà báo tự do Trương Minh Đức, người bị tuyên án 12 năm tù với tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”. Nhân vật bị nhận định với tội danh ghê gớm đó đã vô số lần bị an ninh thường phục đánh đập đến nhập viện, bị câu lưu, giam tù 5 năm trước đó do đã viết bài ủng hộ cho giới công nhân bị đàn áp, bị bóc lột bởi giới chủ cũng như bày tỏ quan điểm về một Việt Nam cần một chính quyền tốt hơn.
Chị Kim Thanh kể lại lời nhắn này trong sự thảng thốt. Người tù chính trị ở Việt Nam thường phải chọn mãn hạn ra tù như một kẻ bị bẻ gãy ý chí, sống chấp nhận nhục nhằn với quản giáo, hoặc không còn là mình nếu sống theo luật pháp và quyền con người trong một trại giam. Anh Trương Minh Đức được nói lại với gia đình những điều này, khi anh và thầy Đào Quang Thực, ông Nguyễn Văn Túc cùng tuyệt thực phản đối sự đối đãi tàn tệ trong trại giam này. Đã hơn 2 tuần lễ của cuộc tuyệt thực này diễn ra – điều cùng cục mà những người tù nhân lớn tuổi này quyết phải làm – là bởi họ đã yêu cầu, kêu gọi bằng tiếng nói con người.
Mùa hè ở Nghệ An, nơi những cành lá oằn mình cháy xém trước sự thiêu đốt lên đến hơn 40 độ. Thì nơi nhà giam thấp, mái tôn, nhiều người bị giam chung, sức nóng có thể lên hơn 43-45 độ. Nhưng không có quạt, phòng giam nghẹt thở không có quạt để xua bớt sức nóng. Khi mọi người xin mở quạt, thì giám thị đáp nhanh là “quạt hỏng”. Nhưng đó chỉ là một lý do để không cải thiện tình hình, kéo dài sự hành hạ mà mục đích là bóp chết dần sức sống của những tù nhân bệnh tật và cao tuổi.
Câu chuyện của tù nhân Trương Minh Đức, Đào Quang Thực và Nguyễn Văn Túc chỉ là một góc nhỏ của nấm mồ khồng lồ mang tên trại giam, trại cải tạo dành cho người Việt trên đất nước hiện nay.
Đã có quá nhiều câu chuyện kể, nối tiếp và kinh hoàng, từ cái chết của thầy giáo Đinh Đăng Định, Huỳnh Anh Trí, mục sư Tin Lành Ksor Xiem… rồi những người bị tra tấn trong tù một cách tàn bạo như mục sư Nguyễn Công Chính,  Hoàng Bình, Nguyễn Văn Hóa, Nguyễn Viết Dũng… Thậm chí những nghi vấn về thức ăn có chủ đích tàn phá sức khỏe người bị giam giữ cũng đã được phát đi từ Trần Hoàng Phúc, Trần Huỳnh Duy Thức… khiến lịch sử về nhà tù và thái độ ứng xử của một nhà nước với tù nhân bất đồng chính kiến đã ngày càng được phác thảo rõ hơn.
Và nếu tất cả đang diễn ra đồng bộ mở mọi trại giam, mọi quản giáo và mọi thời điểm, bất kỳ ai cũng có thể nhìn thấy đó hoàn toàn có tính hệ thống chứ không thể là của một vài cá nhân có thói quen tàn bạo – như kiểu Thượng tướng Lê Quý Vương từng trả lời trước Liên Hợp Quốc (LHQ) về công ước chống tra tấn, vào tháng 11/2018, là có sai lầm của một vài cá nhân cán bộ.
Không chỉ trong nhà giam, mà cách hành xử bên ngoài với dân thường ở các trại tạm giam, nhục hình điều tra, thậm chí khi không có lệnh khởi tố… cũng là những hình ảnh khác nhức nhối về một nhà nước Việt Nam tự ứng cử vào ghế Hội đồng Bảo an LHQ. Ngay cả với câu trả lời các sai lầm thuộc về cá nhân cán bộ - người ta phải tự đặt câu hỏi, vì sao ngành công an Việt Nam – đặc biệt là trong trại giam lại tuyển dụng nhiều kiểu người tàn bạo và phi nhân tính như vậy?
Có rất nhiều thứ để người ta phải ngẫm nghĩ về đạo đức của một nhà cầm quyền, dẫu đó là loại đạo đức giả hiệu. Từ sau năm 1989 đến nay, thế giới vẫn chưa bao giờ ngừng thu thập các tài liệu về các vụ tra tấn thể chất và chà đạp tinh thần con người trong các nhà tù cộng sản ở Ba Lan, Đức, Rumani, Nga Sô… những kẻ thi hành nhiệm vụ cho đến những kẻ ra lệnh vẫn luôn được gọi tên và đưa ra xét xử. Nhưng điểm chung của tất cả các trại giam và phạm nhân chính trị ấy đều có chung một đặc điểm là một bên thì cố bẻ gãy ý chí, thậm chí bào mòn sức sống của tù nhân bằng mọi cách. Một bên thì cố giữ lại phần nhân tính của mình để dành lại cho quê hương mai sau không còn cộng sản – mà điều ấy chắc chắn sẽ đến. Nổi bật hơn hết, là trò kỳ quái, khi đã kết án, các trại giam và các quản giáo xay thịt luôn buộc các phạm nhân phải viết bản nhận tội và tự thú thành khẩn trong những năm tháng bị giam hãm.
Nhiều ví dụ ở Việt Nam cũng đang cho thấy điều đó, tương tự.
Khi bạn đọc được những dòng chữ này. Ở Việt Nam, vẫn còn ai đó đang tuyệt thực. Vẫn có ai đó đang bị chà đạp tinh thần hay thân thể trong các trại giam. Và ở đâu đó, vẫn còn những con người Việt Nam luôn muốn sống với luật pháp, với tư duy văn minh và đòi một làn gió cho mình, bất chấp nhà cầm quyền có thể chối bỏ hay che lấp những số phận đó.
Nếu bạn là yêu sự công bằng. Yêu sự tồn tại đường hoàng của con cái mình trong tương lai, ở một quốc gia tiến bộ và có quyền con người, bạn cần lắng nghe thấy họ, và lên tiếng cho những người như ông Trương Minh Đức, Đào Quang Thực, Nguyễn Văn Hóa, Hoàng Binh, Nguyễn Trung Tôn, Trần Hoàng Phúc, Phan kim Khánh… rất nhiều ở Việt Nam lúc này, không thể kế hết. Bạn cần lên tiếng cho những con người đang chịu tù đày – dù đúng hay sai đi nữa – vì nơi đó không phải là để dành cho việc hủy diệt nhân tính.
Bạn hãy lên tiếng, kể cả khi tôi không có thể lên tiếng cùng bạn, như ngày hôm nay.

Thursday, June 6, 2019

“Chúng ta sẽ cùng vượt qua”, vợ của kỹ sư Nguyễn Ngọc Ánh hét lớn tại phiên tòa




Kỹ sư Nguyễn Ngọc Ánh là một điển hình về quyền tự do ngôn luận bị giam hãm và chà đạp tại Việt Nam. Chỉ bằng việc bước xuống đường bày tỏ về tình hình ô nhiễm môi trường của đất nước, lên facebook để nói về thực trạng xã hội, nhưng anh Nguyễn Ngọc Ánh bị nhà cầm quyền Việt Nam coi là mối nguy cho sự tồn vong của chế độ.
Ngày 6-6-2019, tòa án tỉnh Bến Tre đã kết án anh Nguyễn Ngọc Ánh 6 năm tù giam và 5 năm quản chế, theo điều 117 BLHS, tức có hành vi làm ra, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cùng với những cụ già, thanh niên mới vào đời… việc tạo cớ bỏ tù hàng loạt người dân, cho dù họ sống và hành động đúng với Hiến pháp Việt Nam về quyền tự do ngôn luận. nhà cầm quyền Việt Nam cũng bộc lộ sự suy nhược và mong manh của chính họ, trong thành trì đầy vũ trang và điều luật mơ hồ để chống lại nhân dân.
Phát biểu sau khi đi dự phiên tòa của chồng mình, chị Nguyễn Thị Châu nói rằng  “dù sao đi nữa, tôi luôn tự hào về người chồng của mình” . Chị Châu mô tả lại phiên xử ngắn ngủi đó.

- Dạ, em đi lên lên tòa từ ngay 5/6. Mấy chị em người nhà các tù nhân lương tâm mướn nhà nghỉ và chờ ngày xử. Dù không cản trở gì, nhưng nơi ở của các chị em bị an ninh vây kín.  Sáng ngày 6-6, em nhận thấy cách tòa án chừng 500m, công an đã dày đặc. Sau đó, em thấy một đoàn 5 chiếc xe chở Cảnh sát cơ động (CSCĐ) chạy vào, trong đó một xe chở anh Ánh. Lúc đó, em giơ máy lên để chụp thì công an thường phục ập đến ngăn em. Với em, phiên tòa diễn ra sau đó vô cùng nàm chán và áp đặt. Thông báo thì nói tòa bắt đầu lúc 7g sáng, nhưng đến 8g30 mới bắt đầu, đến 12g đã kết thúc.
Thẩm phán và Viện Kiểm Sát chỉ đọc trên giấy ghi sẳn, nhưng lủng củng, đọc sai rất nhiều. Họ bắt chồng em phải nhớ lại những chuyện từ hai năm trước.
Chồng em xác nhận có livestream, nhưng khẳng định viêc anh tham gia biểu tình về môi trường, dân oan… là quyền của công dân. Anh Nguyễn Ngọc Ánh cũng nói xuất phát từ lương tâm và trách nhiệm công dân, nên anh không có tội.
Nhưng với em, đó là phiên tòa dàn dựng. Chẳng hạn như phần người làm chứng thì có em và một người làm của gia đình em trước đây. Riêng người đó, công an có xe đưa rước riêng, cách ly với em. Người đó nói những lời mà an ninh muốn để kết tội chồng em. Chẳng hạn nhà em có một cái ao, mà anh Ánh để ở đó một cái gậy, thì người này nói là anh Ánh làm cái gậy để đi biểu tình.  Rồi công an hỏi, người này kể tên những người nói chuyện livestream với chồng em y như lời an ninh kết tội.
Các video live stream trình chiếu lên màn hình để kết tội chồng em không có nguyên bản mà bị cắt sửa, chỉ có những câu nói hay phần nào bị coi là bất lợi. Còn nguyên bản, nguyên ý thì không có.  Tòa cũng cố ý nhắc đi nhắc lại những điều này coi như là tội nặng của anh Ánh. Thẩm phán rồi Viện Kiểm Sát thay phiên tấn công chồng em không nghỉ, không kịp suy nghĩ để đối phó. Em còn nhớ lúc đó anh Ánh bị mệt và chân anh cũng đau đến mức anh phải vịn chặt mới không ngã, nên thẩm phán cho phép chồng em ngồi, nhưng chồng em đã từ chối. Em tin là chồng em muốn bày tỏ rằng dù như thế nào, anh cũng không nhượng bộ.
Lúc đó, em tức giận quá nên bật tiếng chửi thể và đá tung cánh cửa nên công an áp lại, ngăn em. Sau đó đi ra ngoài thì công an cũng kèm chặt.
Lúc kết thúc phiên tòa, em chạy vào và la lên với chồng mình “anh yên tâm đi, mình còn cuộc chiến cuối cùng. Mình sẽ cùng nhau vượt qua”. Công an cũng chặn em lại, không cho em lại gần chồng em.
Em còn nhớ, trước đó chồng em nói là dù có tù 15 hay 20 năm, thì anh cũng sẽ chấp nhận. Nên khi nhận bản án, anh Ánh không có gì tức tối hay sợ hãi gì cả.

Nhưng đó là suy nghĩ của anh Ánh, còn chị thì cảm thấy thế nào?
- Em nghĩ là bản án do ở trên đưa xuống, quyết định trước rồi. Một bản án bất công, soạn sẳn rồi. Em hiểu chồng mình đã quyết tâm bước chân còn đường lên tiếng cho đất nước, tức chồng em đã biết trước chuyện gì sẽ đến. Vì vậy, cùng chồng mình, em chấp nhận hết. Có là một người tù án 10 hay 20 năm, chồng em vẫn là niềm tự hào của em.

Kết thúc phiên tòa, họ có cho chị gặp anh Ánh không?
-  Lúc đi vào, đoàn xe đi cổng trước, nhưng khi kết thúc, họ đưa anh Ánh ra bằng cổng sau để tránh tiếp xúc với mọi người. Họ cũng không muốn anh chị em phản ứng, và tránh chuyện em nổi khùng lên. Em nhào vào xe chở anh Ánh thì 5 người an ninh giữ em lại, ngăn không cho em la lên, hay nói gì với anh Ánh.  Ra đến quán café cùng mấy chị em gia đình tù nhân lương tâm thì vẫn còn canh, nhưng về đến nhà nghỉ thì không thấy nữa.

Phiên tòa xử anh Nguyễn Ngọc Ánh có ai đến đồng hành với chị không? Vì từ ngày 5-6, ở Sài Gòn hay nhiều nơi khác, an ninh đã chặn cửa rất nhiều người vì sợ mọi người tập trung về Bến Tre?
- Dạ có 4-5 chị em gia đình tù nhân lương tâm đến. Em nghĩ cũng có những người khác đến nhưng không gặp được tụi em, vì mọi người bị kèm chặt. Trong tòa thì chật ních người ngồi nhưng rất nhiều là người do công an cài đặt, nên không biết ai là ai.

Theo tình hình này, thì chị và anh Ánh có quyết định kháng cáo không?
- Em đã liên hệ với luật sư Đặng Đình Mạnh cho việc này. Em nghĩ ông xã em có sai lầm khi nghe công an thuyết phục không cần luật sư và ảnh cũng muốn giữ lời hứa với họ. Nhưng anh Ánh cũng nói rằng sau khi tự bào chữa mà xảy ra những tình huống mà ảnh không đồng ý, thì sẽ nhờ đến luật sư. Chắc là em sẽ đi thăm chồng em rồi có quyết định ngay. Qua phiên tòa này, em thấy chồng em lợi dụng chuyện chồng em tự bào chữa rồi quay chồng em chóng mặt luôn. Lúc em ở vị trí người làm chứng, thẩm phán hỏi em có thấy anh Ánh livestream không. Em nói là tôi không quan tâm livestream hay gì cả, nhưng việc chồng tôi nói chuyện với ai, làm gì, đó là quyền tự do của ảnh. Chồng tôi chỉ nói và đóng góp cho xã hội theo điều 167, chồng tôi không có tội. Tòa đã bắt em im lặng.

Cám ơn chị, và mong anh chị sớm có ý kiến sớm để cùng kháng cáo về bản án này.

Tuấn Khanh (ghi)



Friday, May 17, 2019

Khi chúng ta tuyệt vọng



Một người bạn của tôi kể rằng anh ấy hụt hẩng kinh khủng khi trải qua đại lễ Vesak 2019 của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Việt Nam. Thậm chí, có cái gì đó giống như là tuyệt vọng trỗi lên, khi anh thấy trên truyền hình, trên báo chí trương hình ảnh ông Thích Thanh Quyết cho ra mắt bức tranh cố gắng nối Hồ Chí Minh một bên và Đức Phật Thích Ca một bên.

Bên cạnh sự rộn rịp tại một lễ hội, mà Hòa thượng Brahmapundit, Chủ tịch sáng lập Ủy ban Tổ chức Quốc tế Đại lễ Vesak Liên hợp quốc (ICDV) khẳng định nói rằng đã thành công tốt đẹp, cuộc tranh luận và bình phẩm về sự kiện nhà nước vô thần đem biểu tượng cao nhất của Phật giáo để đứng cùng lãnh tụ của họ, đang xuất hiện khắp mọi nơi, thậm chí khiến nhiều trang tin tức quốc tế cũng ghi nhận.

Tháng 5-2019 tại Việt Nam không chỉ có vậy. Đã có nhiều điều diễn ra quyết liệt ở mọi nơi, tạo nên một bức tranh tổng thể đỏ ngầu và dữ dội hơn cả sự mô tả ông Hồ Chí Minh đứng trong bức tranh Đạo Pháp và Dân Tộc đó. Những bắt bớ liên tục diễn ra, những nhà máy có sự che chở giới lãnh đạo đang phủ đầy ô nhiễm tang tóc trên đất nước này. Những kẻ giàu có, mua chuộc được sự dốt nát và hám lợi của bọn cầm quyền đang bóp nghẽn các dòng sông, đang cày nát núi đồi và rừng xanh…

Lễ hội Vesak 2019 đã thành công đến mức nói về hòa bình thế giới, nói về ô nhiễm trên tầng cao khí quyển hành tinh, nói về hòa hợp các dân tộc nhưng lại làm ngơ những người nông dân, những làng xóm từ Nam chí Bắc luôn nơm nớp vì bị cướp đất, bị cưỡng đoạt.

Lễ hội Vesak 2019 cũng không nói đến sông Hàn bị bóp nghẹt, nói về những cánh rừng mất dần để thế chỗ bằng sân golf hay biệt phủ của giai cấp mới.

Lễ hội Vesak 2019 cũng không nhắc gì đến việc làm sao để Hà Nội ngừng rượt đuổi những người thương phế binh VNCH, làm sao ngừng chặn bắt hay đánh đập những người bất đồng chính kiến. Từ ngày 12-5 đến 14-5, suốt trong đại lễ này không ngớt xuất hiện những cụm từ “từ bi” và “sám hối”, nhưng hàng ngàn tỉ đồng từ mồ hôi nước mắt lao động của người Việt để tạo nên sự hoàng tráng của đại lễ, vẫn không hề giúp giác ngộ được bộ máy lãnh đạo vô thần Hà nội.

Trong tuyệt vọng, nhận thức luôn là một lối đi mới, tôi vẫn phải đùa và an ủi người bạn mình. Nụ cười lặng lẽ và đôi mắt nhắm của Đức Thích Ca trước các vở hài kịch nhân gian cũng là một suy niệm đủ cho anh bạn tôi – hay bất kỳ ai – bừng tỉnh. Trong bài diễn văn của ông thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có nhắc rằng “mỗi người chúng ta chính là sứ giả của đức Phật”. Nhiều năm qua, những sứ giả nhân danh Đức Phật có hơi thở nhà cầm quyền, đã không ngừng dạy con người mũ ni che tai trước hiện thực, bài xích tôn giáo khác, thậm chí tạo sự lạc lối, về lịch sử dân tộc.

Trong tiếng vỗ tay và đồng tuyên bố về tình nhân loại và tự do tín ngưỡng từ đại lễ Vesak 2019, cũng đã đồng tình chôn sống sự thật về những ngôi chùa bị san lấp, về những tu sĩ bị sách nhiễu tại Việt Nam. Thậm chí, vị Bồ tát có thật của hành tinh là Đức Đạt Lạt Ma thứ 14 cũng được đại lễ sắp xếp cho lãng quên bằng trò đơn giản như thắp nến hay ca hát.

Mỗi lúc thế giới đang mở ra. Những lời nói dối của thế kỷ 21 luôn tinh xảo hơn ở thế kỷ trước. Nhưng bên cạnh đó, nhận thức của con người trước những sự dối trá giờ đây cũng khác biệt và tinh tế hơn. Sau 1975, khi ông Mai Chí Thọ - giám đốc công an thành phố - đối thoại với những bậc trí giả của Giáo hội Phật giáo Thống Nhất đã đặt vào cuộc trò chuyện là xe tăng và nhà tù. Còn 2019, trên bàn đối thoại với Phật giáo và tín đồ, nhà cầm quyền đặt cược bằng cả chùa lớn và đại lễ. Nhưng dẫu vậy, mắt của Đức Phật qua năm tháng ấy vẫn khép, nụ cười vẫn bí ẩn. Những trò vui có thay hình đổi dạng, vẫn vậy, vẫn vô nghĩa cùng những lời nói dối có hệ thống.

Nên bạn tôi, đừng tuyệt vọng, đừng từ bỏ.

Nhận thức không nhằm để chúng ta tuyệt vọng. Nhận thức để chúng ta có được cái nhìn thông tuệ và xuyên suốt, để luôn mang trong tim mình niềm hy vọng. Nhận thức rõ được sự thật sẽ khiến bạn thấy mình khép mắt lặng im và mỉm cười như Đức Phật. Sự thật ấy sẽ dắt tay anh em qua ngõ tối và sợ hãi. Sự thật rồi cũng sẽ giải thoát dân tộc này qua sự mê muội và muộn phiền.

Vì mỗi con người chỉ có một cuộc đời, nên nếu chúng ta tuyệt vọng và từ bỏ, tức đã tự dâng hiến sự sống duy nhất của mình cho kẻ ác, cho bọn vô thần. Trong nhận thức, ta vẫn đang gieo niềm hy vọng, không chỉ riêng mỗi mình, tôi nói với người bạn, và có thể, ta sẽ còn nhìn thấy Đức Phật bí ẩn mỉm cười.

Sunday, May 12, 2019

Hội Luận Cà Phê Đá, niềm cảm hứng của truyền thông tự do




Từ tháng 6/2019, hy vọng rằng dân cư mạng vẫn còn thấy được thường xuyên chương trình Hội luận Cà Phê Đá, với hình ảnh đã trở nên quen thuộc lâu nay.

Đây là một trong những chương trình vlog có hàng chục ngàn người Việt trên toàn thế giới đón coi mỗi sáng thứ Hai, xuất hiện tại Nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế, 38 Kỳ Đồng, Quận 3, Sài Gòn. Câu chuyện thời sự hàng tuần của đất nước, được hai linh mục Lê Ngọc Thanh và Trương Hoàng Vũ dẫn dắt, đã kiên trì mở ra nhiều góc tối của xã hội, lên tiếng cho tù nhân lương tâm và dân oan, trình bày quyền con người và luật pháp hiện hành.

Nhìn thoáng qua, Hội luận Cà Phê Đá giống như các cuộc tán gẫu thời sự, thế nhưng trong một thời gian ngắn, chương trình này đã trở thành điểm tựa cho nhiều người đang sống trong một đất nước đầy sự vô pháp, thất nhân tâm… Chương trình làm người xem thương mến, bởi họ vẫn còn tìm thấy những tiếng nói chân thành, kêu gọi sự minh bạch cho đất nước, cho số phận con người. Đã từng có lời bình luận của người xem, nói rằng Hội Luận Cà Phê Đá giống như giờ thời sự định kỳ của đài truyền hình phía tự do ngôn luận, chương trình truyền hình thật sự của nhân dân.

Dĩ nhiên, mọi thứ đều có cái giá của nó. Bên cạnh những lời cỗ vũ và chờ đón dành cho chương trình này, cũng có những sự căm ghét và những âm mưu từ kẻ có quyền.

Mới đây, có lệnh thuyên chuyển nhiệm sở đối với linh mục Lê Ngọc Thanh và Trương Hoàng Vũ, cho thấy linh mục Thanh phải về Vĩnh Long, còn linh mục Vũ sẽ phải đến Cần Giờ. Như vậy, từ cuối tháng 5/2019, dù có cố gắng nối tiếp, nhưng vlog Hội Luận Cà Phê Đá ắt sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Công việc mới bận rộn ập đến với từng linh mục, và quan trọng là họ phải rời trung tâm Sài Gòn, nơi tiếp nhận không ngừng hơi thở sự sống, vốn luôn bị bịt chặt các phần sống động nhất trên các trang báo của Nhà nước.

Từ năm ngoái, 3 vấn đề lớn mà vlog Hội Luận Cà Phê Đá đặt ra, làm nhức nhối những kẻ muốn bưng bít thông tin tại Việt Nam là vấn đề bắt bớ, giam giữ, kết án, bỏ tù một cách quái dị đối với những người yêu nước đã xuống đường từ ngày 10 tháng 6, năm 2018 để chống luật an ninh mạng, chống luật đặc khu nhượng địa cho Trung Quốc. Kế đến là vấn đề Luật an ninh mạng và tuờng trình các diễn biến quanh vụ cướp đất ở Vườn rau Lộc Hưng.

Nhưng đến sự kiện Vườn rau Lộc Hưng, không chỉ vlog Hội luận Cà Phê Đá có vai trò mở đường đưa ra các lời tố cáo, vạch trần sự lừa dối và trắng trợn của chính quyền quận Tân Bình, mà người ta còn thấy chương trình này đã tạo ra niềm cảm hứng cũng như khởi động sức mạnh truyền thông của giáo dân Công giáo. Thậm chí, chương trình này từ khi ra mắt, cũng tạo cảm hứng cho giới tự do tín ngưỡng ở Việt Nam trong việc gầy dựng truyền thông cho mình. Từ đầu năm 2019 đến nay, việc xuất hiện các vlog ngắn tường trình hay livestream của các phái Cao Đài Chơn Truyền, Hòa Hảo Thuần Túy, và kể cả Phật giáo Thống Nhất… đã trở nên nhiều hơn. Thậm chí trong các chứng cứ thu thập cho phúc trình của Ủy ban Tự do tôn giáo của Hoa Kỳ (USCIRF) năm 2019 về Việt Nam, có cả các video về người H’mong theo đạo Tin Lành gửi đến – điều mà trước nay vô cùng hiếm hoi.

Đã có nhiều lời đồn đoán về nhà cầm quyền tác động đến việc thuyên chuyển của các linh mục. Nhưng nói trên trang cá nhân của mình, linh mục Lê Ngọc Thanh nói rằng nhiệm kỳ và thuyên chuyển của các linh mục vẫn luôn là nguyên tắc bình thường.

Tuy vậy, với cái nhìn từ bên ngoài, rõ là tiếc nuối, khi những các nguyên tắc đó bắt buộc phải thi hành vào những thời điểm mà các linh mục đang cống hiến tốt nhất, mạnh mẽ nhất khả năng của họ. Và thậm chí cũng bất thường, khi liên hệ đến trường hợp linh mục Nguyễn Duy Tân phải rời bỏ giáo xứ Thọ Hòa để về phụ việc ở công trình Đức Mẹ Núi Cúi, lúc này.

Công việc truyền thông, phụng sự cho những TPB-VNCH cũng được nhiều người đặt dấu hỏi về việc có thể tồn tại lâu dài hay không ở Dòng Chúa Cứu Thế. Đặc biệt là vào cuối năm ngoái, khi có tin hành lang rằng nhà cầm quyền muốn chấm dứt việc tập hợp các TPB-VNCH như vậy, dù chỉ là giúp đỡ từ thiện. Khi được hỏi về điều này, linh mục Phạm Trung Thành – người từng bị cấm xuất cảnh và nhiều lần bị tra vấn bởi nhà cầm quyền, đã nói rằng ông vẫn làm, và sẽ phải làm cho những con người bị thiệt thòi đó. “Chúng tôi phụng sự Chúa, và đã là việc của Chúa thì không ai có thể cản được”, linh mục Phạm Trung Thành nói, cũng trên một vlog của truyền thông Công giáo.

Hội Luận Cà Phê Đá sẽ tiếp tục hay tạm dừng? Khán giả của vlog này nhìn về hiện tại và lo lắng. Nhưng trên thực tế, dù tiếp tục hay tạm dừng, thì chương trình này cũng đã làm được điều tưởng chừng như vô vọng vào những lúc khó khăn nhất: thổi một luồng gió mới đầy cảm hứng về truyền thông tự do, trong một đất nước độc tài kiểm duyệt.


Wednesday, May 8, 2019

Bùi Chu – Phát Diệm, vì sao là lịch sử?




Câu chuyện nhà thờ Bùi Chu đang đứng trước các cuộc tranh cãi là có nên phá bỏ, xây mới, lại rơi vào một thời điểm rất thú vị: kỷ niệm 65 năm những người miền Bắc di cư vào Nam theo tiếng gọi tự do (1954 – 2019).
Trong những điều mà người ta bàn tán, và nói Nhà thờ Chánh tòa Bùi Chu, thuộc xã Xuân Ngọc (Xuân Trường, Nam Định) là di sản, là lịch sử bởi được xây vào năm 1884, bởi giám mục người Tây Ban Nha Wenceslao Onate Thuận, nhưng thật ra, ẩn sau đó, là một câu chuyện của niềm tin, máu, nước mắt, oan khiên… không chỉ riêng của người Công giáo, mà còn là cả một chặng dài lịch sử người Việt.
Người ta vẫn hay kể những câu chuyện kinh hoàng về người ở lại miền Bắc sau 1954, với Cải cách ruộng đất, với các vụ án xét lại chống Đảng, chiến dịch thanh trừng Nhân văn-Giai phẩm… nhưng rất ít có tài liệu nào nói lại rằng những người chọn ở lại, những linh mục, những giáo dân… đã sống thế nào trong những tháng ngày ấy, cho đến 1975.
Từ tháng 7-1954, dòng người ngược xuôi khi chia cắt đất nước, dù không thống kê được đầy đủ, nhưng theo sách Ramesh Thakur, Peacemaking in Vietnam, ước tính rằng có khoảng gần một triệu người từ miền Bắc Việt Nam chạy vào Nam vì từ chối sống dưới chế độ cộng sản. Trong khi đó, chỉ có gần 4.500 người từ Nam ra Bắc. Đa phần họ được gọi tên là dân tập kết đời đầu. Tuy nhiên, đó chỉ là con số thống kê cho đến hết tháng 7 năm 1955. Những cuộc đào thoát sau đó, từ Bắc vào Nam là còn chưa kể đến.
Trong số những giáo dân vào Nam, có không ít người từ Bùi Chu – Phát Diệm. Vì lẽ, hơn ai hết, từ năm 1945 họ đã hiểu cộng sản là gì. Đức giám mục Lê Hữu Từ (được tấn phong từ tháng 10/1945) đã nhận ra được ẩn đằng sau Mặt trận Việt Minh là bàn tay của Quốc tế Cộng sản. Chính vì vậy, ngài đã sớm hậu thuẫn cho tổ chức Việt Nam Công giáo Cứu Quốc, nhằm tách biệt với hàng ngũ người Cộng sản, đặc biệt trong bối cảnh mọi người Việt Nam đều quyết kháng Pháp để đòi độc lập dân tộc.
Đó không phải là suy đoán, vì tài liệu nghiên cứu (2009) nằm trong tàng thư của Tòa tổng giám mục Sài Gòn, được tổ chức bởi Đức Hồng y Phạm Minh Mẫn từ năm 2007, có ghi lại rằng Đức cha Lê Hữu Từ đã công khai tách bạch giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản với người đứng đầu của chế độ miền Bắc là chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1946, khi về Phát Diệm để tạo hòa hoãn với Đức cha Lê Hữu Từ, trong vai trò là Giám mục cố vấn chính phủ, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghe trực tiếp lời tuyên bố của Đức cha rằng “Tôi và toàn dân Công giáo Phát Diệm đoàn kết và triệt để ủng hộ Cụ trong công cuộc chống thực dân Pháp, giành độc lập cho tổ quốc Việt Nam. Nhưng nếu Cụ là Cộng sản thì tôi chống Cụ, và chống Cụ từ phút này”. Nhưng vào lúc đó, ông Hồ Chí Minh vẫn không nhận mình là Cộng sản. Thậm chí ông còn nói với Đức cha Lê Hữu Từ rằng sẽ có một cuộc phổ thông đầu phiếu “toàn dân sẽ định đoạt, Cụ và tôi khỏi phải lo”.
Nhưng cuộc phổ thông đầu phiếu đúng nghĩa ấy, không bao giờ có với người miền Bắc sau 1954 và cả nước, sau 1975.
Nằm kề nhau, nên hai giáo phận Bùi Chu và và Phát Diệm có cùng một khuynh hướng về đạo và đời. Đó là chưa nói 2 nơi này có cùng một lãnh tụ tinh thần của người Công giáo miền Bắc từ năm 1954 đến 1967, là ngài Thaddeus Lê Hữu Từ, Giám quản Tông tòa hạt đại diện của cả hai nơi này qua từng thời kỳ.
Sự mâu thuẫn giữa tổ chức Việt Nam Công giáo Cứu Quốc và Việt Minh tăng dần, dẫn đến những va chạm bằng vũ khí. Theo tài liệu Gibbs, “Battle of Indo-China”, Đức cha Lê Hữu Từ đã có một đội dân quân kháng Pháp và cũng để bảo vệ giáo dân trước Việt Minh, con số được ước tính trong sách nói có lúc đã lên đến 6.000 người. Ủng hộ và yểm trợ cho ngài về mặt chiến sự, được biết có ông Ngô Cao Tùng, chức danh thiếu tá, có nguồn gốc là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Lực lượng vũ trang của ông Tùng được ước tính cũng có khoảng 1.700 người.
Đây là một tình cảnh không khác gì với Phật giáo Hòa Hảo ở miền Nam Việt Nam. Một mặt chống Pháp đòi độc lập, nhưng mặt khác người yêu nước phải luôn đề phòng Việt Minh tiêu diệt mình để gồm thâu về một mối cho chủ nghĩa cộng sản. Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, người sáng lập đạo Hòa Hảo, đã cho hình thành Lực lượng Vũ Trang Hòa Hảo (1945), mà tiền thân là Đội Bảo An, sau đó có thêm lực lượng Hòa Hảo Dân Xã của tướng Trần Văn Soái (tức Năm Lửa) sát nhập vào nhằm bảo vệ mình, cũng như cho cuộc kháng Pháp.
Tháng 10-1949, người Pháp bất ngờ nhảy dù đổ bộ xuống đồng Lưu Phương, sát cạnh khu an toàn Phát Diệm, không ai trở tay kịp vào lúc đó. Và cũng chính vì lý do này mà Việt Minh coi hai vùng Bùi Chu-Phát Diệm là ngầm theo Pháp chống lại Việt Minh. Dĩ nhiên đó âm mưu chính trị, mà sau 1954, người công giáo ở Bùi Chu - Phát Diệm còn ở lại miền Bắc bị rơi vào hoàn cảnh khốn khó hơn hết dưới sự kiểm soát của chính quyền Bắc Việt cộng sản.

Theo tài liệu “Thái độ của các Giám Mục miền Bắc đối với Cộng sản từ 1945 đến 1954” do nhà chép sử Công giáo Vũ Sinh Hiên ghi lại cho thấy, dù ở trong vùng Pháp kiểm soát, nhưng suốt trong thời gian đó, Đức cha Lê Hữu Từ vẫn luôn bày tỏ sự bất mãn và chống đối công khai với người Pháp và vua Bảo Đại. Năm 1951, nhân kỷ niệm 300 năm ngày sinh thánh Jean Baptiste de la Salle, Đức cha Lê Hữu Từ đã lấy cớ đó, đọc bài diễn văn nảy lửa, tuyên bố rằng “Người Pháp hãy ở yên tại Paris và Bảo Đại nên về lại Sài Gòn”.
Nhưng dù vậy, đến 1954, khi người Pháp ra khỏi Bắc Việt, bắt đầu cuộc chia đôi đất nước, các giáo phận Bùi Chu-Phát Diệm vẫn nằm trong sự thù nghịch của chế độ mới. Tên gọi “những con quạ đen” được truyền thông Nhà nước Marxist đặt tên cho các linh mục và tuyên truyền từ đó. Và rồi, một chương khác đầy khổ nạn đã mở ra. Một chặng lịch sử vừa kiêu hãnh, vừa đau đớn của người Công giáo miền Bắc đã hằn nơi mảnh đất họ sinh sống, hằn nơi tiếng chuông nhà thờ và những phiến đá nham nhở, yếu ớt theo thời gian của các thánh đường, như thánh đường Bùi Chu vậy.
Và đó là một phần của câu chuyện dài, để giải thích thêm cho ý nghĩa Bùi Chu – Phát Diệm vì sao là lịch sử.

----------

(Ảnh màu: Nhà thờ Bùi Chu trước khi hạ giải - Ảnh trắng đen, giáo phận Bùi Chu trước năm 1954)

Thursday, April 25, 2019

“Những mảnh đời sau song sắt” – ký ức không thể để quên lãng



Thỉnh thoảng, tôi vẫn hay phải kể lại những câu chuyện về thời người Việt Nam khốn khó, những ngày tháng sau 1975, khi bữa cơm độn với khoai, với trấu. Và thậm chí bữa ăn chỉ toàn là bo bo, một loại thức ăn cho ngựa của Nga sô. Rất nhiều người không biết về giai đoạn đó. Người ta hay dễ quên. Nhất là vào giai đoạn cái ăn cái mặc dễ dàng hơn. Người ta hay quên.

Cũng như vậy, khi tôi đọc cuốn sách của Phạm Thanh Nghiên - “Những mảnh đời sau song sắt” – cảm giác lúc đó cũng không khác gì những người trẻ tuổi. Tôi thấy mình dường như cũng đang quên. Cuốn sách kéo giật tôi về hiện thực, rồi nhắc tôi nhớ lại rất nhiều tác phẩm nói về tù ngục và sự cùng quẩn của một con người bị đẩy đến chân tường. Những con người với suy nghĩ bình thường – nhưng chỉ bình thường thôi đã là trọng tội trong chế độ độc tài.

Cuốn sách bắt đầu với ngày 18 tháng 9 năm 2008, vào lúc 9:45 phút sáng. Rất đông công an đã đến bao vây tư gia của mẹ cô Phạm thanh Nghiên, lúc cô Nghiên đang tọa kháng tại phòng khách, phản đối công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi đến chính phủ Trung Quốc vào ngày 14 tháng 9 năm 1958. Chứng cứ để bắt Nghiên, là cô đang ngồi ở phòng khách nhà mình, và có biểu ngữ “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”.

Từ một phụ nữ có tiếng nói khác biệt, Nghiên dần dần trở thành một người tranh đấu cho lẽ phải, giới thiệu về lẽ phải với cả những nhân viên công quyền. Và cô ghi chép lại cả cuộc tranh đấu đó với một thế giới quan hấp dẫn.

Những đoạn đối thoại trong sách, thật sự thú vị. Nó thú vị đến mức khiến người đọc hồi hộp trước những tình huống, và các câu hỏi mà Phạm Thanh Nghiên gặp phải, vì nếu tự đặt mình vào tình huống đó, chưa chắc gì mình đã có được một phản ứng suông sẻ.

Tôi may mắn được được đọc nhiều tác phẩm đối thoại trong nhà tù của cộng sản. Từ Trại Đầm Đùn của Trần Văn Thái (giải thưởng văn học của VNCH năm 1970) cho đến Số không với vô tận của Arthur Koestler, từ đó, nhận ra rằng những cuộc đối thoại giữa công an viên và tù nhân trong các chế độ cộng sản thay đổi dần qua năm tháng. Từ sự dã man và vô luân lý, họ đi dần qua các thủ thuật tâm lý rồi dẫn đến những kẻ giăng bẫy người tinh khôn, thậm chí điên cuồng săn lùng nhân tính của người đối diện để kết án.

Sách của Phạm Thanh Nghiên cũng vậy, nhưng mở ra một thế giới mới, hiện đại của các nhân viên thẩm vấn của thế kỷ 21. Tất cả mọi thứ là một chuẩn mực mới: thô bỉ hơn, trớ trẽn hơn, kiên nhẫn hơn và xảo quyệt hơn.

Tôi không thể diễn tả hết được cảm giác của mình khi đọc đến đoạn Chiềm (tôi không biết đó là tên thật hay đã được thay đổi), một công an thẩm vấn, tặng cho Phạm Thanh Nghiên cuốn tập nhạc của Trịnh Công Sơn và đề nghị hát cho cô nghe. Chú mục và sự kiện, có thể tưởng rằng đó là một hoạt động đáng mến giữa người và người, nhưng nhìn rộng, sẽ thấy đó chỉ là một bước của trò đặt bẫy cảm giác cũng như nhân đó giới thiệu phần “văn hóa” và “nhân cách” của mình với người đang bị giam cầm.

Trong lời giới thiệu Trại Đầm Đùn, NXB Nguyễn Trãi viết rằng “tai họa bất ngờ không biết đâu mà lường trước được. Miệng cán bộ, miệng đảng viên có gang có thép, họ bắt bẻ, buộc tội như thế nào, tù nhân cũng đành chịu, cán bộ bảo sống là sống, bảo chết là chết, tù nhân không thể nào tránh né được.”.

Trong Số không với vô tận, nhân vật Rubashov đã phải chịu liên tục các phiên thẩm vấn đêm, từ hai nhân viên là Ivanov và Gletkin. Trong đó có một người từng là đồng chí của Rubashov – để nhằm dễ luồn và tâm lý và khai thác.

Những gì Phạm Thanh Nghiên chịu đựng trong tù là tổng hợp cả những điều ấy. Vì các thẩm vấn viên giỏi chuyển mình như thể là những người am hiểu và chia sẻ tính cách, suy nghĩ của cô, nhưng bất kỳ giờ nào họ cũng trở thành “có gang có thép” và trở thành phán quan.

Nhưng có lẽ, cuốn sách của Nghiên là cuốn sách đầu tiên của một phụ nữ nói về nhà tù và hoàn cảnh của mình, hoàn cảnh của những người phụ nữ khác. Cuốn sách chân thật đến nỗi, người ta có thể cảm nhận được mùi của phòng giam tổng hòa thức ăn và hố xí kề bên. Nó gai góc và rõ nét đến mức ngang hàng với một hồ sơ tố cáo.

Nhưng Phạm Thanh Nghiên viết ra không để hù dọa những ai đang dám cất lên tiếng nói của mình mà giới thiệu rõ phía bên kia của bóng tối là gì. Nghiên viết không phải để làm nhụt chí những ai có lẽ sống như mình, mà viết như một chứng thực rằng với sự thật và niềm tin, cô đã đi qua những nơi đó, và bất kỳ ai cũng có thể.

Hơn cả đáng quý, đây là một cuốn sách chân thật và hiếm hoi, cho tôi và cho bạn.

Khác với miếng cơm độn hôm qua, bọn trẻ hay chúng ta có thể quên, nhưng sự phi nhân tính và bóp nghẹt quyền được nói trong cuộc sống, là điều buộc chúng ta phải nhớ, phải đòi quyền thanh tẩy. Sách sẽ luôn nhắc tôi và bạn về điều đó.



--------------------

TB: Trong sự kiện hàng trăm người dân Vườn Rau Lộc Hưng bị rơi vào cảnh khốn khó. Phạm Thanh Nghiên đã quyết định dành trọn số tiền bán sách có được, để giúp cho người dân ở đây (mà chính cô cũng là một nạn nhân). Sách bán được đợt 1 (46 triệu) và đợt 2 (28 triệu) đã trao tặng cho trẻ em và gia đình những nạn nhân Vườn Rau Lộc Hưng, thông qua linh mục Nguyễn Duy Tân.

Lúc này, Phạm Thanh Nghiên dự định dành 100 bản in cuối để gây quỹ cho người dân Vườn Rau Lộc Hưng, hiện đang rất bức thiết. Xin mời bạn góp tay cho quỹ này.

--------------------

HƯỚNG DẪN MUA SÁCH: Giá sách là 200.000 VND/cuốn. Bạn gửi tiền mua sách về tài khoản của linh mục Nguyễn Duy Tân (giáo xứ Thọ Hòa, Long Khánh, Đồng Nai).

Dưới đây là thông tin tài khoản:

Nguyen Duy Tan Ngân hàng Agribank, chi nhánh Long Khánh

Số tài khoản: 590 620 522 4304

Sau đó, bạn gửi thông tin cho chúng tôi (những người đăng bài giới thiệu, quảng bá cuốn sách). Thông tin gồm: Tên người nhận + Địa chỉ nhận sách + Số lượng + Số điện thoại di động + Đính kèm biên lai chuyển tiền hoặc tên người chuyển tiền. Sau khi nhận được thông tin, chúng tôi sẽ chuyển sách cho bạn. Xin cám ơn.