Wednesday, March 30, 2016
Những dự án ngàn tỉ: người dân cần sự minh bạch
Friday, March 25, 2016
Cái ác trỗi dậy, vì người Việt không còn niềm tin
Thursday, March 24, 2016
Từ cái chết của những cây cầu
Khi chúng ta bị muôn trùng vây
Một người bạn kể lại rằng sự hoang mang người dân đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) về nạn khô hạn và ngập mặn ngày càng nhiều.
Tại Sóc Trăng, người dân ở đây kể rằng nhiều gia đình đã tìm cách bán đất đai – dĩ nhiên là với giá rẻ rúng – để dời đi, tìm một nơi khác để sống sót tai ương ngay tại quê nhà của mình.
Không chỉ là người làm ruộng mới khổ sở, những người nuôi cá tại Trà Vinh đang vớt lên hàng loạt những con cá lóc bị ghẻ lở và chảy máu toàn thân do ao hồ bị ngập mặn. Các loại thuỷ sản nước ngọt đang giãy giụa tuyệt vọng trong sự kinh hoàng bất lực của nông dân.
Trên những chuyến đò, trên các chuyến xe liên tỉnh… Người ta đang râm ran nói về nơi mình đến – miền lục tỉnh bao la sông nước – nhưng giờ thì đang chết dần. Những vùng đất dồi dào sản vật của miền Nam có thể sẽ chỉ là chuyện kể như trong cổ tich.
Rõ là một quốc gia đang bị bao vây. Và bao vây một cách êm đềm vì người ta không nghe tiếng kêu cứu hay phản đối đúng mức cho sự sinh tồn của dân tộc mình.
Sự kiện ngập mặn hôm nay của ĐBSCL chỉ là hiện tượng tái diễn của năm 2015, nhưng lần này mức độ khốc liệt, ảnh hưởng đến hàng triệu người. Thế nhưng, chính uỷ ban Sông Mekong Việt Nam cũng “bao vây” người dân mình bằng những thông tin hết sức mù mờ và chủ quan về tác hại của đập thuỷ điện Trung Quốc.
Uỷ ban này được lập ra bằng tiền thuế của người Việt Nam, để phối hợp cùng ba nước khác, thuộc dòng hạ lưu sông Mekong là Lào, Thái Lan, Campuchia… để đối phó, cảnh báo tình hình có thể ảnh hưởng đến quốc gia.
Uỷ ban Sông Mekong Việt Nam thiếu khả năng, thiếu thông tin hay vô trách nhiệm với đất nước của mình? Không phải hôm nay chuyện ngập mặn, khô hạn mới được biết tới.
Từ năm 2011, tức năm năm trước, thế giới đã liên tục có những thông tin cảnh báo và kêu gọi Việt Nam hãy cẩn trọng về các dự án trên sông Mekong, bao gồm của Lào, Thái Lan, đặc biệt là các dự án trên thượng lưu, vùng Vân Nam của Trung Quốc.
Lạ lùng nhất, ở vị trí của mình, uỷ ban ấy lại rất điềm nhiên, thậm chí còn ra báo cáo, khẳng định vào tháng 10/2015: rằng những tác động từ đập của Trung Quốc là “tương đối nhỏ”.
Từ tháng 11/2011, trên tờ Deutsche Welle (DW) đã có một bài bình luận Mekong dams threaten food and security, nhắc rằng lưu vực sông khổng lồ này, với sự đa dạng sinh học chỉ đứng sau sông Amazon, đang bị đe doạ đáng sợ.
Việc làm khô hạn hay hạn chế dòng chảy của sông Mekong có thể làm ảnh hưởng đến lượng đánh bắt hàng năm, vào khoảng 15 triệu tấn (giá trị hàng tỷ USD) và làm cằn cỗi đời sống hai bên bờ.
Cơ quan WWF của Liên hiệp quốc dự kiến đến năm 2025, sẽ có 90 triệu người sống quanh đôi bờ sông này, trong đó 50% là sinh tồn bằng tự nhiên. Việc kiểm soát dòng chảy sẽ là nguyên nhân quan trọng dẫn đến đói nghèo và hỗn loạn.
Tháng 11/2015, tức chỉ mới đây, tờ Straits Times cũng kêu gọi sự quan tâm của các nước bằng phân tích cụ thể của cây viết chuyên về vùng Đông Dương Nirmal Ghosh, rằng tác dộng của các đập thuỷ điện đối với Việt Nam hết sức nghiêm trọng.
Độ nhiễm mặn sẽ tràn vào đất liền, vùng ĐBSCL, đe doạ nhiều vùng trồng lúa. Và rồi một phần bờ biển dài 600 km phía Nam Việt Nam bị mất dần, với tốc độ 4 – 12 m một năm.
Rõ ràng là cả thế giới đều biết, đều cùng chung sức tìm hiểu và nhắc nhở, nhưng chỉ có người dân, kẻ chịu nạn sớm và nhọc nhằn nhất, thì lại là người biết sau cùng. Họ đã bị bao vây khỏi sự hiểu biết vì lẽ gì?
Những câu chuyện như vậy, nhắc chúng ta nhớ lại những ngày Quốc hội Việt Nam được nhìn thấy với những đại biểu ngủ ngon trong nghị trường. Những đại biểu khác thì chơi game và nhiều lần Quốc hội tuyên bố về sớm vì không có gì để bàn.
Những người đại diện của nhân dân, cũng bao vây hiện tình đất nước của mình với nhân dân bằng sự rảnh rỗi và nhẹ nhàng.
Nó cũng nhắc chúng ta nhớ, suy nghĩ và sự minh bạch rộng rãi và cần thiết cho cuộc chiến 1979, cho Gạc Ma 1988, hay cho cuộc chiến mất đảo Hoàng Sa 1974, là điều quan trọng để người Việt thoát khỏi những vòng vây nhạt nhoà về lịch sử của chính mình.
Trong những vòng vây ấy, có những người dân cuống cuồng tự tìm một con đường sống
Friday, March 18, 2016
Trung Quốc: Giấy phép tu hành và những cuộc “thanh trừng” đức tin
Từ đầu năm 2016 đến nay, các chiến dịch đập phá nhà thờ Công giáo, hạ các thánh giá, thậm chí là bắt bớ các linh mục và chức sắc tôn giáo bùng phát đã gây ra mối lo ngại không chỉ ở Trung Quốc. Đây là những cuộc đàn áp tín ngưỡng lớn nhất, kể từ sau cuộc cách mạng văn hóa của Mao Trạch Đông. Cho đến nay đã có hơn 1.500 thập tự giá bị gỡ bỏ, nhân danh việc giữ "an toàn cho chốn công cộng". Tài liệu tố cáo của tổ chức China Aid, một thành viên của Release International loan đi cho biết.
Phật giáo, một trong những tôn giáo được coi là lâu đời nhất ở Trung Quốc cũng không tránh khỏi kiếp nạn này. Theo ước tính của PEW, tổ chức thăm dò dư luận độc lập có trụ sở tại Washington, Mỹ, cho biết thì hiện Trung Quốc có khoảng 245 triệu Phật tử, tức chiếm 18% dân số, đó là chưa kể 21% dân số không theo tôn giáo nhưng có khuynh hướng tín ngưỡng như người theo đạo Phật. Số lượng đông đảo tín đồ Phật giáo, cùng với mật độ cao đền chùa trên đất nước Trung Quốc khiến chính sách kiểm soát của chính quyền đối với Phật giáo tỏ ra mềm dẻo nhưng thâm sâu hơn.
Trong cuộc Cách mạng văn hoá, trong số 6.843 di tích văn hoá Phật giáo được biết đến tại Bắc Kinh, có đến gần 5.000 điểm bị tàn phá. Nửa triệu cổ vật bị tàn phá hoặc lấy cắp. Các sư, ni bị bắt, bị tra tấn và kinh sách bị đốt không kể xiết. Sau thời kỳ cầm quyền của Mao Trạch Đông, chính quyền Trung Quốc quay lại ve vuốt Phật giáo, cho trùng tu và xây dựng nhiều đền chùa nhưng lại kiểm soát chặt chẽ hơn bao giờ hết.
"Người Trung Quốc bây giờ giàu có hơn, nhưng khẩn thiết cần một một đời sống tinh thần", Yan Lu, một người từng nghiên cứu chủ nghĩa Marx-Lenin phát biểu trên tờ Time như vậy. Nhà nghiên cứu 27 tuổi này đột nhiên từ bỏ vị trí dễ dàng thành đạt của mình để về làm ni sư ở một ngôi chùa nhỏ ở Changxing, một ngôi làng nhỏ gần Bắc Kinh.
Các sư trụ trì ở các đền chùa ở Trung Quốc hôm nay phải rất khôn khéo để tận dụng sự vui lòng của chính quyền, nhằm đạt được giấy phép hoạt động tôn giáo chính thức mới có thể tồn tại yên lành. Hàng ngàn điểm thờ phượng ở Trung Quốc được áp dụng một chính sách lấp lửng là không bị sách nhiễu nhưng không có giấy phép, nên họ luôn bị treo trong tình trạng sợ hãi và luôn phải vâng lời chính quyền địa phương. Việc bắt bẻ về chuyện đổi vị trí một viên đá lâu năm, di chuyển một cái lư hương trong sân chùa... luôn có thể biến thành thảm hoạ theo ý các quan chức phụ trách tôn giáo. Hàng ngàn các ngôi đền Hồi giáo và nhà thờ Công giáo bị hủy bỏ lâu nay, cũng do vướng vào vấn nạn ấy.
Đối với nhiều Phật tử, việc hành hương và thờ cúng ở các ngôi chùa "hợp pháp" khiến họ cũng an tâm hơn. Nhưng với ni Yan Lu, trong bối cảnh Trung Quốc hiện nay rất cần phải tách bạch giữa tôn giáo và chính quyền. "Chính phủ đang dùng ý thức hệ để cai trị, giống như cách mà các triều đình ngày xưa vẫn lợi dụng Phật giáo để cai trị”, ni Yan Lu nói, "nhưng tôi nghĩ khi một tôn giáo quá gần gũi với chính quyền sẽ không tốt. Tôi nghĩ tôn giáo nên tách khỏi chính quyền".
Phật giáo hôm nay tại Trung Quốc đang bị biến thành một cơ hội kinh doanh lớn và tiềm năng. Thậm chí, chính phủ đã vui vẻ ủng hộ việc khuếch trương hơn nữa Hội chợ Quốc tế các Vật phẩm Phật giáo lần 2 (2nd China International Buddhist Items and Supplies Expo) tại Bắc Kinh vào tháng 12 vừa rồi, cho thấy thị trường vật chất đang lớn mạnh vượt trội, so với các giá trị tinh thần.
Một trong những ví dụ dễ thấy là sự phát triển rầm rộ của đền Longquan, nằm ở ngoại ô Bắc Kinh. Mỗi cuối tuần, từng đoàn hàng trăm tín đồ kéo về đây để nghe thuyết pháp và tham gia các lớp hướng dẫn thiền. Để hấp dẫn người đến, đền Longquan cho dựng các robot được lập trình tự động trả lời các vấn đề về Phật giáo, hoặc quảng bá các robot cắt sợi mì chay, nằm trong nhà hàng kế bên chùa. Khẩu hiệu được trương lên ở đền này là "Yêu nước, Yêu Phật" (Love our country, love Buddhism), một loại khẩu hiệu dễ làm hài lòng chính quyền.
Phật giáo hay bất kỳ tôn giáo nào khác, có vẻ như vẫn đang tồn tại ở Trung Quốc, nhưng mặt khác nó lại ngấm ngầm là điều cấm kỵ. Tháng rồi, Đảng Cộng sản Trung Quốc lại nhắc lại việc cấm mọi đảng viên khi về hưu, không được tham gia bất kỳ tín ngưỡng nào. Hiến pháp của Trung Quốc dù vẫn khẳng định về quyền tự do tín ngưỡng, nhưng tự do đó không đơn giản là yên lành mà có được.
Tuesday, March 15, 2016
Đức hạnh của kẻ cầm quyền
Một trong những chuyện, nên được nhắc lại, đó là việc ông Huỳnh Văn Nén tiếp tục theo đuổi vụ án của đời mình lại tiếp tục gây nên nhiều dư luận. Người tù oan, có thời gian bị giam giữ đến hơn 17 năm ở tỉnh Bình Thuận, sau khi trở về nhà, đã kiên trì tiếp tục mục đích của ông là đưa 14 người có chức vụ ra toà, đối mặt với công lý.
Đầu tháng 3/2016, Cục điều tra Viện KSND tối cao đã hồi đáp đơn yêu cầu điều tra của ông Huỳnh Văn Nén. Câu chuyện cuộc đời của ông Huỳnh Văn Nén, được giới luật sư goi tên là đại kỳ án của quốc gia xem ra vẫn tiếp diễn, và chắc là sẽ mở ra thêm nhiều điều đáng chiêm nghiệm từ ngành tư pháp Việt Nam hiện nay.
Có không ít dư luận quanh sự kiện này. Có người thì cho rằng hành động quyết liệt này của ông Huỳnh Văn Nén là cần thiết, và người dân chờ đợi vào kết quả như một thái độ đúng công dân. Nhưng cũng có ý kiến rằng ông Nén đã "làm quá", vì đã được xét bồi thường từ 10-12 tỉ đồng, và được cả nước chia sẻ vụ án oan này. Thật mới mẻ với người Việt, khi chứng kiến một người tù oan quyết đi đến tận cùng của sự việc, so với thói quen cam chịu, im lặng và dễ dàng chấp nhận từ nhiều năm nay.
Cuối năm 2015, trong một cuộc gặp mặt do báo Infonet tổ chức, tôi có được may mắn tiếp xúc với ông Huỳnh Văn Nén cùng gia đình, thầy Nguyễn Thận và luật sư Phạm Công Út, những người đeo đuổi chuyện minh oan cho ông Nén. Ông Nén bị công an điều tra đánh đập, đe doạ... buộc phải nhận tội giết 2 người trong vùng của ông, giấu nhẹm cả đơn tố cáo hung thủ thật.
Điều khiến tôi hay nhớ về ông Nén, đó là một gương mặt đầy nếp nhăn, rúm ró giấu kín mọi suy nghĩ. Rất khó phân biệt được biểu cảm của ông là đang cười hay đang khóc. Chỉ đến khi thấy giọt nước mắt của ông im lặng chảy xuống, thì mới biết. Mà lúc đó thì chung quanh cũng rất nhiều người khóc, mắt đỏ hoe. Những người đàn ông thì khóc không thành tiếng, mặt rúm ró vì những quặn đau trong lòng.
Ông Nén là người hiếm hoi, không chịu ngồi xuống và hài lòng với phần đời còn lại qua số tiền bồi thường khổng lồ. Nơi ông Nén đang sống, chỉ cần có một tài sản 1 tỉ đồng đã là đại phúc, thế nhưng ông được hứa hẹn là sẽ có gấp 10 lần như vậy. Có lời bình luận rằng có thể ông Nén còn chất chứa hận thù hoặc trở nên cơ hội trong sự kiện đời mình, nhưng quan trọng nhất, đích đến của ông Nén vẫn vô cùng công chính, đó là công lý.
Ngày 3/12/2015, ông Huỳnh Văn Nén được phó chánh án TAND tỉnh Bình Thuận lạnh lùng đọc thư xin lỗi công khai. Trong 30 phút của buổi xin lỗi đó, ông Nén nhiều lần nhắm nghiền mắt, im lặng, tay buông thõng. Có lẽ ký ức của ông dội về, với những ngày tháng ông cùng 8 người thân trong gia đình bị giam cầm, nhà cửa không còn, cái chết đến cùng bữa ăn hàng ngày.
Ông Nén từng cởi áo giữa toà để chứng minh mình bị đánh đập, bức cung ra sao. Nhưng nhiêu đó thì không đủ, làm sao tả hết những ngày ông bị trói vào ghế, công an điều tra dùng chân mang giày đá liên tục và ống chân đến thâm đen. Đến mức ông té xuống, khóc, xin tha, thì bị công an viên trẻ như con mình quát "cho mày chết luôn". Người thân của ông, bị giữ để điều tra ở nhà tạm giam nữ, khi đến chu kỳ tháng phải tự xé quần làm băng vệ sinh, chứ không được cấp phát theo quy định, vì bị người điều tra tuyên bố "không nhận tội thì ráng chịu".
Ông Nén chắc không ngờ vì sao mình trở thành kẻ phạm tội, và vì sao phải nhận tội. Một buổi tối ghé xin ít rượu đế từ nhà hàng xóm với lời nói đùa "uống để gột rửa tội lỗi" đã biến ông thành nghi can số một. Đã có lúc ông Nén muốn chết vì quá đau đớn thân xác và tinh thần, nhưng ông đã không thể làm vậy, vì nếu ông còn sống thì công lý còn một hy vọng, sự thật còn một cơ hội. Công lý không đơn giản là một lời xin lỗi công khai, không là con số 10 hay 12 tỉ đồng. Công lý là ánh sáng giữa cuộc đời tưởng chừng như tuyệt lộ này, công lý là đòi hỏi việc xiển dương sự thật cũng như vạch mặt những kẻ không đủ khả năng để phục vụ cho sự thật.
Khi ông Nguyễn Phúc Thành gửi đơn tố cáo thủ phạm thật, xin giải oan cho ông Nén, thì bị điều tra viên Cao Văn Hùng chỉ mặt "mày muốn chết à? Tao cho mày chết". Sau vụ án của ông Nén, điều tra viên đó ra Hà Nội ung dung hành nghề luật sư. Thậm chí số tiền dự trù 10-12 tỉ đền bồi cho ông Huỳnh Văn Nén cũng lấy từ tiền thuế của người dân, chứ 14 cán bộ người liên quan đến vụ án của ông Nén không hề thiệt hại mảy may.
Nhưng ông Huỳnh Văn Nén hay Nguyễn Thanh Chấn chỉ là những trường hợp may mắn được giải oan, còn bao nhiêu trường hợp khác chưa được biết tới đang rên xiết trong phòng điều tra, mơ ước một sự công tâm?
Hãy cám ơn ông Huỳnh Văn Nén. Ông không đi tìm công lý cho riêng mình, mà đang dựng lại ngôi nhà chung cho mọi người. Ngôi nhà đó có cánh cửa lớn tràn ngập ánh sáng chứ không âm u với những chấn song lờ mờ chực chờ. "Công lý chính là thứ đức hạnh hàng đầu của kẻ cầm quyền", Denis Diderot (1713-1784), nhà triết học Pháp có để lại lời nhắn đó từ thế kỷ thứ 18. Lời xin lỗi hay một mớ tiền bồi thường không thể đánh tráo khái niệm đó là là công lý và đức hạnh của một quốc gia. Tìm cách để giảm thiểu bất công, soi chiếu ánh sáng công lý vào những nơi không thể đó mới chính là đức hạnh của người cầm quyền, đức hạnh của công dân.
Và hơn ai hết, xin hãy ngã nón chào người từng bị giam cầm 17 năm 5 tháng 11 ngày ấy, vì chính ông đang thay chúng ta, lặng lẽ hành động vì đức hạnh của ngành tư pháp, vì tương lai trên đất nước này.
----------------------------------
Minh họa: Tranh den của Thái Tuấn
Nhạc sĩ Thanh Tùng, xin chào tạm biệt.
Chấm dứt chiến tranh Nam - Bắc Việt Nam, nhạc trẻ chậm chạp quay lại miền Nam, đặc biệt là trên sóng phát thanh truyền hình. Lúc đó, sự có mặt các tác phẩm của nhạc sĩ Thanh Tùng là sự góp sức quan trọng, giúp giải toả nhiều định kiến của "bên thắng cuộc" về âm nhạc miền Nam, và đem lại một không khí sôi động cho phong trào nhạc trẻ Làn Sóng Xanh ở Saigon, và của cả Việt Nam.
Người nhạc sĩ đến từ Nha Trang đã góp vào đời sống hàng loạt các bài hát như Hát với chú ve con, Lời tỏ tình mùa xuân, Ngôi sao cô đơn, Lối cũ ta về, Mưa ngâu, Một mình... với phong cách thuần pop và rock, tham gia vào làn sóng âm nhạc mới, biến đổi các nhịp điệu hành khúc buồn chán và đơn điệu, tuyên truyền trên sân khấu giải trí thành nụ cười và những bàn tay xiết chặt nhau, giơ cao đu đưa trong những đêm nhạc ngoài trời.
Cùng với dòng máu nóng của thanh niên Saigon đang khao khát có lại được một dòng nhạc phù hợp với mình, các nhạc sĩ Thanh Tùng, Trần Tiến, Bảo Chấn, Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Đức Trung... và nhiều người nữa đã cùng mở ra một không gian mới với pop, rock và sự trẻ trung được hưởng ứng rộng rãi, không thể ngăn cản được.
Không có nhạc sĩ Thanh Tùng, và một lớp nghệ sĩ yêu nhạc trẻ của thập niên 80, 90, thì có lẽ âm nhạc Việt sẽ mất thêm một thời gian rất lâu mới có thể thoát được một giai đoạn đầy định kiến và kiểm duyệt khắt khe với âm nhạc có nguồn gốc từ phương Tây. Cơ quan kiểm duyệt nhà nước và các nhạc sĩ dư luận viên coi đó như là một phần văn hoá "đồi truỵ và lai căng". Giai đoạn nhạc trẻ sống lại trong thập niên 80, 90 đã gợi nhiều cảm hứng và can đảm cho nhiều các nhạc sĩ khác cho ra mắt nhiều ca khúc nhạc trẻ thuần tuý, không màng phục vụ chính trị.
Cũng cần nhắc lại, giai đoạn mở đầu độc đáo của nhạc trẻ Việt Nam do các nhạc sĩ Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang xiển dương tại miền Nam, giai đoạn 80, 90 với sự góp mặt của nhạc sĩ Thanh Tùng, là một phần nối đáng nhớ cho sự phát triển của nhạc trẻ Việt Nam. Giai đoạn này, cùng với nhiều ca khúc khác, nhưng đặc biệt là các bài hát của nhạc sĩ Thanh Tùng đã mở ra một giai đoạn đặc biệt, nối liền sự thưởng thức của khán giả Việt Nam và hải ngoại, san bằng ít nhiều những khác biệt về văn hóa thưởng thức của người Việt tự do và đời sống trong nước.
Âm nhạc của nhạc sĩ Thanh Tùng, cũng là cơ hội để các tên tuổi như Bằng Kiều, Thu Hà (Saigon), Thanh Lam... vụt sáng và tiếp cận đông đảo khán giả hơn. Trong các giai đoạn sản xuất băng đĩa rộn rịp nhất, dù không có được thống kê cụ thể, nhưng các tác phẩm của ông được liệt vào hàng ăn khách nhất của nhạc trẻ Việt Nam.
Hơn mười năm nay, ông yếu sức do bệnh tật, và không còn tham gia đời sống âm nhạc nữa. Ngày 15 tháng 3/2016, ông mất tại Bệnh viên Bạch Mai, Hà Nội, hưởng thọ 68 tuổi.
Nhạc trẻ Việt vào thời kỳ gượng phục hưng, sau 1975, ghi nhớ sự có mặt của nhạc sĩ Thanh Tùng như một nhân vật đáng nhớ với nhiều thương tiếc.



