Tuesday, April 21, 2015

Trộm chó và mại dâm

image



Một người bạn nước ngoài nói với tôi rằng họ kinh hãi, không thể nào tin nổi ở Việt Nam giờ đây lại có những hình ảnh con người bị đánh đập đến chết và cột cùng với xác chó, kéo lê trên đường, để phô diễn chiến tích.

Nạn trộm chó đang hoành hành ở miền Bắc Việt Nam, và để đáp lại những vụ trộm đó, những cuộc vây đánh đến chết kẻ trộm vẫn diễn ra. Nhiều vụ còn được ghi hình lại như một sự kiện thích thú. Phần lớn công an địa phương cũng bối rối, vì rõ ràng họ không được hướng dẫn đối phó với các tình huống bạo lực đám đông như vậy, mà chính họ ắt cũng cảm thấy lo sợ khi đứng giữa đám đông rầm rập đó.

Hãy thử đặt một câu hỏi, chủ nhân của con chó đã tham gia đánh kẻ trộm được bao nhiêu lần vì tức giận, và đám đông tham gia đó đã tiếp sức cho cuộc đánh đập với lý lẽ gì, nếu không phải là một khoái cảm bạo lực của đám đông đang bùng lên khi tìm thấy một đối tượng để trút vào. Đó hoàn toàn không là câu chuyện của lẽ phải, mà là một hiện tượng xã hội mới phát sinh.

Có lẽ từ đây về sau, cái chết có lẽ là điều phải nhẩm trước cho bất kỳ một kẻ trộm (chó) nào, chứ không phải là luật pháp, ngay trên một quốc gia có đội quân công an hùng hậu, mà luật lệ thì luôn được khẳng định thực thi. Nếu từ đây, một dạng thiết chế đời sống công xã như vậy hình thành ở các miền khác, các địa phương khác, ắt sẽ còn có nhiều hơn những cái chết cho nhiều trường hợp khác nhau.

Việc bắt giữ và tự mình xét xử bằng bạo lực, nhắc con người văn minh nhớ đến IS, những kẻ khủng bố dùng cái chết để răn đe, nhớ đến những vụ hành hình, nhớ đến chuyện đấu tố trong thời cải cách ruộng đất ở miền Bắc sau 1945. Thậm chí, những hình ảnh này còn gợi nhớ đến giai đoạn xã hội được kiểm soát bằng ủy ban quân quản, chẳng hạn như sau tháng 4/1975, những thanh niên Sài Gòn bất phục bị bộ đội Bắc Việt bắt giữ và tuyên án, xử bắn ngay trung tâm thành phố. Xã hội không còn chiến tranh nhưng đang như tái hiện mọi thứ: giai đoạn mà những tập thể đi cùng với bạo lực, chỉ xử chứ không xét.

Trong Phật giáo, việc niệm Phật là một loại gieo mầm thiện. Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ vẫn để lại di huấn cho các đệ tử của ông rằng, ngay cả không thuộc kinh kệ, việc niệm Phật thay vào cũng là một cách để ấp ủ thiện tính trong lòng mình, và “niệm” này tác động đến những hành xử đời thường. Xã hội bất an và có nhiều ức chế không thể giải tỏa trong đám đông, cũng là một cách gieo niệm sự dữ trong con người. Và chỉ cần một cơ hội, nạn nhân của họ sẽ là bất cứ ai, nhân danh lẽ phải. Nhưng cũng cần nên nhớ rằng đám đông không tự mình hung dữ, con người không tự dưng ác, mà phải xét rằng xã hội mà họ đang sống, đã điều khiển, đã gieo trồng loại mầm gì lên họ.

Việc đám đông người Việt hôm nay dã man, không chỉ riêng ở trộm chó, mà ngay các câu chuyện thường ngày trên báo chí cũng cho thấy. Đặc biệt gần đây là chuyện rêu rao người mẫu bán dâm.

Thông tin người mẫu bán dâm rộ lên, ngay sau khi có vài người đẹp đột nhiên mất tích. Đợi lúc dân chúng xôn xao thì ngành công an mới hô lên rằng chính họ đã bắt, từ những nghi vấn mại dâm. Thật mỉa mai khi rất ít tờ báo nào đặt vấn đề vì sao công an lại có thể lạm quyền bắt cóc nhiều ngày các nghi phạm trong một vụ hình sự cấp thấp như vậy, mà chỉ tập trung vào chuyện mô tả vẻ đẹp của những người mẫu và số tiền được cho là giá mua dâm.

Màu sắc hèn hạ cũng không khác gì những người đánh kẻ trộm chó, người dân không chất vấn ngành công an địa phương đã làm ăn như thế nào mà vùng đất lại rộ trộm cướp, báo chí gọi là tử tế của Nhà nước chỉ lo vật và xé toang mọi thứ che thân của những người mẫu đang bị cho là bán dâm. Đó cũng là một loại bạo lực không khác gì đánh kẻ trộm chó, nhưng bạo lực khi nhân danh luật pháp và thông tin để hành hạ phụ nử, thì còn bệnh hoạn và ghê tởm hơn.

Giá tiền và những gương mặt đáng thương của các cô gái này được trưng bày trên báo chí, không chỉ mô tả một xã hội Việt Nam đang đạo đức giả đến đáng phỉ nhổ, mà còn cho thấy lẫn khuất trong đó sự thèm khát số tiền và cuộc đời của các nạn nhân, từ biên tập biên cho đến phóng viên của các tờ báo. Xã hội Việt Nam đang tồn tại một căn bệnh chì thích tra tấn những ai không có khả năng chống lại mình, không khác đám đông hồ hởi và điên dại đấm đạp vào người trộm chó.

Cũng rất ngạc nhiên, nhiều vụ quan chức nhà nước đi mua dâm, khi bị bắt đều được che đậy, còn những cô gái làm việc bằng tấm thân của mình thì bị làm nhục, bị lãnh án. Vụ gã hiệu trưởng Sầm Đức Xương ở Hà Giang, năm 2010, cầm nắm cả một danh sách quan chức mua dâm, thì được giấu nhẹm, chỉ có các cô gái thì phải chịu búa rìu là kẻ phạm tội. Cũng chẳng ngạc nhiên gì, khi năm 2009, tờ China Daily thăm dò, cho biết dân chúng ở Trung Cộng coi trọng gái điếm còn hơn cá giới quan chức. Đơn giản vì gái điếm có làm gì, họ chỉ vay trả bằng cuộc đời của chính họ, còn bọn quan chức thì bòn rút và hút máu nhân dân. Dĩ nhiên, ai cũng biết mô hình xã hội Trung Cộng và Việt Nam cũng không khác gì mấy.

Lẽ thường, nghi phạm chỉ trở thành tội phạm từ sau lời tuyên bố của tòa án. Nhưng chỉ cần công an bắt giữ, điều tra, đột nhiên tất cả những cô gái bị nghi ngờ là mại dâm đều ngay lập tức trở thành tội phạm, bị báo chí bị treo lên, bị lột sạch và cười cợt, chỉ trích. Ở một quốc gia văn minh khác, những tờ báo hối hả dục vọng đó luôn bị khởi kiện vì sự khốn nạn, nhưng ở Việt Nam, mọi thứ được coi như là ánh sáng của công lý. Con người có thế chết ngay lập tức từ đòn đánh của chủ chó, nhưng cũng có thể chết lần mòn từ những vết cắn xé – như trường hợp các cô gái nói trên.

Bạo lực nuôi dưỡng bạo lực, gieo niệm sự dữ vào con người một cách im lặng. Hôm nay đánh chết một con người vì chó, nhưng cũng có thể ngày mai, có thể một đám đông nào đó lại giết chết một con người từ bản năng động vật được nuôi dưỡng và thả rông trong chính mình. Cách thức và mỗi sự việc có thể khác nhau, nhưng cái ác chỉ có một bộ mặt, dù chó hay là người.

Wednesday, April 15, 2015

Thương quá đời nhau

image

Mùa dưa đầu năm nay gặp lũ bất ngờ, nhiều gia đình ở Quảng Nam trắng tay. Nhiều nơi, những thanh niên không quen biết, những nhóm người vô danh đột nhiên xuất hiện và kêu gọi mọi người chia nhau, mua dưa như một cách để cứu nạn cho nông dân. Cuộc sống vẫn còn giới thiệu những điều quý báu và lay động lòng người trước nghịch cảnh lắm khi chán chê.

Nhìn hình ảnh những người già miền Trung ôm lấy trái dưa, ngậm ngùi, rồi lại thấy những thanh niên căng biểu ngữ kêu gọi mua dưa giúp mà thương. Giá dưa lại xuống tận 1000 đồng / kg thì cả ruộng dưa nếu có bán được, e cũng chưa đủ đóng được tiền vay của ngân hàng. Mẹ già nhìn đăm đăm vào ruộng, mênh mông buồn.

Hóa ra, người Việt vẫn gượng lại để giữ một tấm lòng cho nhau, dù có lúc ai nấy đều lặng người trước cảnh giành giật miếng ăn, cướp giật của rơi của người gặp nạn. Nơi Hà Nội từng có ngày hoa bị giành giật, tranh nhau và giẫm đạp, thì cũng có một ngày người người hẹn nhau để giữ lấy từng gốc cây. Sài Gòn sầm uất chốn vui chơi ngày đêm, nhưng không thiếu quán ăn miễn phí, hay giá chỉ 2000 đồng cho kẻ khó hơn mình.

Từ khoảng 5-7 năm nay, phong trào kêu gọi mua hàng hóa để giúp người dân nghèo bắt đầu xuất hiện nhiều hơn. Lúc thì dưa, lúc thì hoa tết, có lúc là rau cải. Người Việt có thói quen mua không để dùng, mà mua như một động thái chia sẻ sinh tồn. Như anh bạn của tôi vẫn hay mua một vài tờ vé số, nhưng chẳng bao giờ dò. Mục đích mua chỉ là gửi một niềm lạc quan cho người khó khăn hơn mình. Thương nhau mới làm được như vậy, vì đôi khi cần dè sẻn, mua một ly nước cho mình, nhiều người vẫn phân vân.

Cách đây không lâu, một người quen trên facebook tranh luận với tôi, nói rằng trên thực tế, người Việt không thể có tình đồng bào. Nếu dựa trên khoa học, câu chuyện trăm trứng nở trăm con và nguồn gốc chuẩn tộc thuần túy, thì rõ ràng “đồng bào” là điều dường như vô nghĩa. Nhưng “đồng bào” – tên gọi và ý nghĩa duy nhất mà người Việt có trên thế giới đã là một sự kết dính tinh thần, thương lấy đời nhau qua năm tháng. Tình thương của người Việt ít màng lý luận, vì vậy ít ai chất vấn vì sao lịch sử người Việt hay song hành với huyền thoại chứ không là ghi chép cụ thể. Dù biết nỏ thần của An Dương Vương hay phép lạ của Thánh Gióng là điều bất khả. Và có lẽ trong thói quen của tình thương đó, người dân Việt cũng ít khi nào tự hỏi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã tận lực như thế nào để chuyện mất mùa hay trì trệ trong nông nghiệp là chuyện thường ngày bấp bênh trên đất nước này, khác với các quốc Châu Á hôm nay?

Trong ghi chép của người xưa, người Việt mình hay cười. Bài “Xét tật mình” của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đăng trên Đông Dương Tạp Chí năm 1913, nói người Việt “Hay cũng hì, mà dở cũng hì, quấy cũng hì, phải cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng, mọi việc hết nghiêm trang. Có kẻ bảo cười hết cả, cũng là một cách của người hiền”. Quả thật người Việt rất hiền. Nghe tin đường xa lộ mới xây bị hư hại, lộ cốt bằng tre, bằng ván ép… rồi im lặng và cười. Nghe vaccine chữa bệnh trẻ con chích vào chết ngay, lại vẫn được hô hào sử dụng, cũng đành im lặng và cười. Nghe lấp sông Đồng Nai sẽ đẩy hàng triệu người vào nghèo khó, im lặng thở dài và cười. Nghe khai thác bauxite thất bại nợ nần đến con cháu đời sau, cũng chỉ im lặng rồi cười.

Người Việt thương mình, như thương một giai cấp của mình trước chuyện thế gian quá tầm tay. Mua hàng cho dân nghèo, góp tiền, góp của cho từ thiện là những chuyện mà đâu đâu trên đất Việt cũng thấy. Tiền người Việt giúp nhau, nhiều không kể xiết – không có một ngân quỹ chính sách nào có thể sánh bằng. Thương nhau, giúp nhau từ nhà ra ngõ, từ trăm cây số đến hàng ngàn dặm. Tiền kiều hối gửi về Việt Nam năm ngoái hơn 11 tỷ USD, bằng giấc mơ phát triển của cả nhiều quốc gia trên thế giới.

Người Việt thương nhau mà thở dài, nhiều người nói mình có ra sức giúp cả đời cũng không xuể. Các quan chức bị tố tham nhũng, chỉ nhận chức chưa quá nửa đời người đã dinh thự đền đài, con cháu trở thành một giai cấp khác, thụ hưởng trên nụ cười khan và tiếng thở dài của dân mình. Người Việt thương nhau, ngó tượng đài trăm tỷ, vinh danh cho bộ mặt một chính quyền mà hàng ngàn gia đình vẫn còn đói ăn trong ngày khánh thành. Người Việt nhìn ra biển, thấy cá mà thương ngư dân trong trùng vây khốn khó, dở khóc dở cười.

Nhỉn ngó mọi nơi, và im lặng trước những điều quá tầm tay. Người Việt quay về với nhau như một giai cấp cam chịu rồi cười. Thôi thì chỉ còn biết chia nhau khốn khó. Cười, thương quá đời nhau.

Wednesday, April 1, 2015

Số 0 đến vô tận

image



Rất nhiều bản tin hôm nay, đặc biệt là tin giải trí, hay nói tới tiền. Dù là mang tính chê bai hay ca ngợi, tiền đang được đề cập đến như một khát vọng cháy bỏng khác thường trong xã hội cộng sản hôm nay.

Ông bạn giáo viên lâu ngày gặp lại, nói được đôi câu đã bắt sang thời sự. “Sao chuyện như vầy mà người ta có thể viết thành một bài báo?”, ông bạn chìa cho tôi xem một bản tin về người đẹp nào đó đang xách chiếc túi hàng hiệu trị giá vài ngàn USD, nội dung của một bài viết dài, cũng chỉ quanh chuyện chiếc túi đắt tiền và người đẹp sang trọng đó đã bỏ tiền mua.

Đâu chỉ có riêng bài báo đó, mà dường như cả thế giới thông tin hôm nay đang nóng bỏng nhìn ngó xem ai có nhà tiền tỷ, ai là đại gia, ai đang thất thế, ai dám tung tiền gây chú ý… những câu chuyện vô bổ, không biết để làm gì đang dẫy đầy trên báo chí, truyền hình. Cả xã hội đang phản ánh một điều đáng lo ngại trong việc kính ngưỡng sự giàu có, bất kỳ ai giàu có đều có thể thành trung tâm thông tin, thậm chí trở thành nhân vật lên bìa của một tờ báo, mà nội dung thì nhạt nhẽo.

Có tiền, những kẻ vô danh được tung hô một cách kệch cỡm. Không tiền, thì bị đẩy xuống tận bùn sâu. Mới đây chẳng bao lâu, một người kinh doanh trẻ tuổi được báo chí ca ngợi, giới thiệu dàn xe hơi đắt tiền nhất nhì Việt Nam của anh, thế rồi lúc anh kinh doanh khó khăn, lại thấy những tin tức diễu cợt không mục đích, nói rằng anh đang cùng cực vì ngồi trên món nợ 3000 tỷ.

Mới đây, một “đại gia” đeo vàng xuất hiện ở Hà Nội – cũng là đề tài báo chí giật lên, xôn xao, rồi có hẳn một tờ báo đi tận Tuyên Quang để tìm ra nhà của người giàu có đó. Bài viết giới thiệu, kính cẩn gọi nhân vật đó, nhắc đi nhắc lại là “vị đại gia”. Ngay trong từng câu chữ, người ta cũng đọc được sự thèm khát của tác giả trước cảnh giàu có một người khác.

Những điều đó, có thể chỉ là chuyện lá cải tầm phào, không đáng quan tâm, nhưng giờ đây, khi đầy dẫy trên các trang tin tức, cũng là một góc nhìn cho thấy một xu thế mê đắm vật chất. Một hiện trạng tôn thờ đồng tiền và chạy theo nó một cách vô nghĩa. Nó phản ánh cháu giết bà chỉ vì cần vài chục ngàn chơi game, con giết mẹ chỉ vì nuôi ăn tốn kém. Thậm chí với thần thánh cũng chỉ cần nhét tiền lên bàn thờ, vào tượng là sẽ mua được may mắn, phước đức.

Thế nhưng cần một lời nói đúng, chia sẻ cho hoàn cảnh của 90.000 công nhân của công ty PouYuen đang đình công thì thật khó tìm lúc này. 90.000 con người lao động chân chính hốt hoảng khi nghe tin chính sách bảo hiểm xã hội thay đổi, đã kinh hoàng ngừng việc và yêu cầu công bằng cho họ. Thế nhưng chuyện 90.000 con người tranh đấu với yêu cầu đúng của mình, vẫn bị chìm ngập và cố tình cho lãng quên trong những dòng thông tin hưởng thụ và giải trí xa rời thực tế.

Theo chính sách mới, điều luật 60 BHXH, người lao động khi không được nhận tiền bảo hiểm, ngoại trừ khi họ đến tuổi hưu. Giả như một công ty thuê công nhân chỉ trong 5 năm, sau đó đóng cửa. Những công nhân này phải đợi đến tuổi hưu của họ mới được nhận tiền BHXH, dù lúc đó, có thể họ chỉ mới 21 tuổi. Mức bảo hiểm xã hội ấy dù chỉ ở mức 300-400 ngàn, lại phải đợi đến tuổi hưu mới được nhận.

Những câu chuyện về tiền quẩn quanh đất nước này. Và như có liên đới với nhau. Khi chính sách mới về không phát tiền BHXH cho người lao động như thường lệ, cũng là lúc mà người dân nhận được tin Quỷ bảo hiểm xã hội tự nhiên không cánh mà bay 1.052 tỷ đồng. Phiên họp của quốc hội năm ngoái công bố như vậy. Thậm chí sau khi thanh tra, hồ sơ gốc chỉ thấy có 700 tỉ, còn bao nhiêu biệt dạng. Đã vậy, chỉ tính đến năm 2013, báo cáo về chi phí quản lý quỹ bảo hiểm xã hội lại cao ngất trời: 3.718 tỉ đồng.

Tiền thật lạ. Tiền quyến rũ dân đen phạm pháp, hấp dẫn quan chức tham nhũng, và tiền cũng tự biến mất, mà không lời hồi đáp. Tiền có thể biến một người công nhân cùng khổ thành người tranh đấu, và biến những công chức thành kẻ cắp.

Tiền thật thú vị, nhất là trong một quốc gia tuyên bố mình là ngọn cờ của giai cấp vô sản. Dường ít có ai phải chịu trách nhiệm về nó trong hệ thống công quyền. Chỉ có nhân dân kiệt sức đóng thuế là người ngẫm nghĩ về nó, và giống như ông bạn thầy giáo của tôi, chìa tờ báo ra, với câu hỏi không bao giờ được giải đáp, như một số 0 đi vào vô tận.

-------------------------
(Tựa đề, lấy từ tên sách của Arthur Koestler)

Wednesday, March 25, 2015

Nhầm




"Nhầm" có thể trở thành một trong những từ ngữ của năm của người Việt. "Nhầm" xứng đáng trở thành tên gọi trong một chương lịch sử hiện đại của người Việt.

Chưa bao giờ người ta chứng kiến việc "nhầm" trở nên thịnh hành ở Việt Nam như bây giờ. Trong vụ hàng ngàn cây xanh bị chặt đổ đầy những câu hỏi, như một vụ án công chưa có câu trả lời, người chịu trách nhiệm chính thức là ai, thì lại có tin hàng loạt cán bộ cấp be bé bị kiểm điểm. Có nhầm không? Người Việt đủ thông minh để hiểu rằng thủ phạm chính vẫn ở đâu đó trong các dinh thự cao rộng, vụ kiểm điểm chỉ là một thủ pháp để xoa dịu sự bất bình của đám đông.

Lãnh đạo Hà Nội nói rằng họ rút kinh nghiệm về việc chặt cây mà không tham khảo ý kiến dân chúng, nhưng bên cạnh những lời trần tình đó, người ta chứng kiến các sinh viên đi dán thông báo bảo vệ cây xanh bị công an, dân phòng sách nhiễu, những chiếc nơ thiện chí về môi trường bị xé đi một cách lạnh lùng và chủ tâm. Một cuộc tuần hành hoà bình kêu gọi bảo vệ cây xanh cũng vây trong không khí căng thẳng như chống bạo động. Ai đang nhầm ở đây, về một sự kiện có sinh hoạt dân sự bình thường bị đè nặng bởi các áp lực mơ hồ nào đó?

Những cây xà cừ cao khoẻ bị nhầm là cây chết, hư hỏng. Gỗ vàng tâm bị nhầm là gỗ mỡ... Chúng ta đang nhầm rất nhiều thứ, bao gồm nhầm cả việc đặt để những người vào vị trí quản lý nhưng lại không có khả năng, luôn nhầm những chuyện quan trọng, gây hoạ cho không biết bao nhiêu người về sau.

Rất nhiều quan chức khi mắc sai lầm, vẫn hay nói rằng đám đông, xã hội đã hiểu nhầm ý của họ. Điều đáng nói là những vị quan chức đó vẫn luôn đúng đắn, chỉ có một xã hội hiểu nhầm. Có khi trí tuệ của đám đông lên đến 80 triệu người, bằng cả một dân tộc, vẫn bị coi là hiểu "nhầm". Dân gian không vô cớ mà hình thành rất nhiều các thành ngữ mỉa mai như "lỗi của thằng đánh máy", "bán vé số thu nhập rất cao", "coi pháo hoa để quên nghèo"... tất cả cũng chỉ xuất phát từ việc "nhầm" của miệng nhà quan. Họ nhầm về nhân dân, và nhân dân đều nhầm về họ.

Trong một truyện cười về nhà triết học Đức F. W. Nietzsche (1844-1900), hậu thế nói rằng khi ông sắp mất, báo chí đứng đầy quanh giường và hỏi rằng toàn bộ học thuật phức tạp của ông, đã có truyền nhân nào kế tục không. Nietzsche thều thào chỉ tay về một cậu học trò thẹn thùng đứng ở gần cửa. "Nó. Chính nó..." Tất cả mọi phóng viên đều ùa sang cậu học trò đó. Duy nhất một nhà báo không chen chân kịp, đành ở lại và hỏi Nietzsche rằng "Cậu ấy thế nào?". Nietzsche thì thào trong hơi thở cuối "Nó là người hiểu sai mọi thứ".

Ai trên đất Việt hôm nay, đã quá vội vã, khiến "nhầm" về mọi thứ? 

Không chỉ Hà Nội, mà ngay ở Sài Gòn, những hàng cây cao lớn, sống hớn nửa thế kỷ đang bị im lặng hạ gục trong các công viên, trên các con đường ở Gò Vấp. Những hàng cây cũng khoẻ mạnh và không tội tình gì. Cuộc sống đang bị triệt hạ âm thầm mà chỉ có số đông dân chúng là nạn nhân. Điều đó thì không thể nhầm.

Con sông Đồng Nai cũng đang chuẩn bị lấp để cho một dự án làm ra tiền nào đó. Hôm nay lấp được một phần, sẽ không lâu lấp đến những phần khác. Hàng triệu con người sống với sông nước ở miền Nam sẽ chịu tai hoạ từ những kẻ phác thảo các dự án từ phòng máy lạnh và nước đóng chai. Tương lai khốn khó và tài nguyên tự nhiên của đất nước cạn đi là một điều không thể "nhầm", thậm chí khi một ngày nào đó những người trách nhiệm vẫn phủi tay, hô to rằng mình "nhầm".

Tất cả mọi chuyển động đều làm ra tiền. Đánh dấu một cái cây cần chặt thôi đã có tiền hơn nửa triệu bạc, thì không lý gì tiền tỷ không được làm ra từ các câu chuyện mà dân chúng phẫn nộ.

Trên đất nước Phượng hoàng hôm nay, quá nhiều những kẻ may túi ba gang đeo bám và trục lợi cho bản thân mình. Phượng hoàng rồi cũng phải kiệt sức trong sự tử tế của mình và không thể nào còn cất cánh nổi. Ngay trong cái chết của nó, ắt cũng kéo theo không biết bao nhiêu kẻ ôm bám cùng những chiếc túi khổng lồ mà luôn "nhầm" là may chỉ với ba gang.

Tuesday, March 17, 2015

Nghe lá rơi dưới chân mình



Mùa hè năm ngoái, chúng tôi chứng kiến quán cà phê vỉa hè mất đi hàng cây xanh quyến rũ của nó. Tàng cây to lớn từ sân của một công ty nhô cao, vượt qua hàng rào, trở thành một khoảng râm mát và xanh tươi của ngã tư đường. Chúng tôi vẫn hay hẹn nhau ngồi dưới bóng cây và gọi một ly cà phê – không còn quan trọng là ngon hay dở - chỉ là để được ngắm một con đường vỉa hè dài, đầy hoa nắng, gió nhè nhẹ thổi. 

 

Phải sống ở Sài Gòn qua những ngày mưa dầm, những ngày nắng điên cuồng… mới thấy tàng cây ấy thú vị đến dường nào trong một đô thị được nuôi lớn bằng sự lãng mạn, mà lãng mạn ấy thì nay cứ bị tước mất một cách chầm chậm và hiển nhiên. 

 

Ngày cái cây xanh to lớn không còn, giống như một người đàn bà đẹp bị bí mật mang đi, không gian đó nhanh chóng vô vị. Mảng tường và giao lộ quen thuộc đột nhiên thay đổi. Mọi thứ sáng rực và trơ trẽn như một căn nhà đột nhiên không còn nóc nữa, giống như một bức tranh được lấp vội bằng một tông màu chói lòa của tay chép tranh ngu xuẩn và tham lam. 

 

Những ly cà phê đột ngột tệ hơn bao giờ hết. Những câu chuyện không còn sự hấp dẫn, người có ghé thì cũng vội vã ra đi. Ngã tư trở về với xác thịt bê-tông vô nghĩa của mình. Người chủ quán buồn buồn nói rằng ngày trước, khi anh còn làm bảo vệ cho chính công ty nhà nước đó, anh đã ước rằng khi nghỉ hưu thì sẽ mượn tàng cây này làm chốn mưu sinh thanh bình cho mình. Nhưng giờ thì thanh bình ấy, anh cũng không định được. Những người khách thưa dần. Người chủ quán có khi đọc hết 3 tờ báo vẫn không ai gọi. Nắng đay nghiến vào từng phiến gạch nứt nẻ nơi vỉa hè. Lá không còn rơi bên chân ghế.

 

Không ai trong chúng tôi quay lại đó. Mặc dù thỉnh thoảng đi ngang, tôi vẫn nhìn vào nơi có tàng cây cũ, ngẫm nghĩ về một hiện tại không thể tiếp diễn. Thành phố đã có rất nhiều những hàng cây xanh bị hạ xuống. Ai biết được mỗi cái cây đã gắn với một mảnh đời nào, gắn kết ra sao với sự thơ mộng nào của thành phố này? Không biết bao lâu thì người Việt mới có thể trồng nên những bóng cây cao lớn cho mình như vậy, nhưng để hạ xuống thì chỉ trong khoảnh khắc. Như tiễn một người quen ra nghĩa trang và hầu như không quay lại vì cảm giác mất mát, chúng tôi cũng không quay lại quán cà phê đó, chỉ để không phải vẩn vơ nghĩ đến một hàng cây.

 

Và chắc tôi nghĩ mình sẽ không quay lại Hà Nội, nơi thành phố ngập những bóng cây. Người Hà Nội chắc cũng như tôi, sẽ không quen khi thấy những tầng cao xanh của mình bị dỡ bỏ. Những tầng cây cao và xanh giống như những thư viện thời gian bí ẩn, lưu giữ linh hồn của một Hà Nội thì thời tàu điện leng keng đến những tiếng rao hàng sớm tối. Chắc sẽ không còn nhiều thơ hay nhạc từ chính trái tim của những người nghệ sĩ không còn bóng râm đó. Ngày mà bản tin về chuyện Hà Nội sẽ chặt bỏ đi 6.700 cây xanh của thành phố, có ai nghe hoa lá xôn xao run rẩy?

 

Dĩ nhiên, những người chủ trương hạ cây có những lý lẽ của mình. Nhưng nên nhớ rằng, mọi lý lẽ được vận dụng chỉ để thuận lợi cho một mục đích thực dụng đơn giản và mới mẻ, đều phải mang đến một sự hy sinh. Trong ngôi nhà tưởng chừng sẽ mãi bình yên, một ngày nào đó, đứa con với nhu cầu hiện đại sẽ cảm thấy bà mẹ quê mùa của mình là vật cản, thì đưa vào viện dưỡng lão hay cho về quê, cũng là một giải pháp buộc phải hy sinh.

 

Hà Nội có 29.600 cây xanh, với 6.700 cây bị chặt đi đồng nghĩa với bao nhiêu không gian tươi mát bị mất đi? Bao nhiêu hơi thở trong lành không còn? Bao nhiêu trái tim sẽ khô cằn với nơi sinh sống của mình?

 

Tháng 5 này, trời chắc sẽ nắng gắt lắm. Tháng 5 này thuế bảo vệ môi trường sẽ bắt đầu đánh vào tiền xăng thêm 3.000 đồng/lít. Bao nhiêu tiền bảo vệ môi trường từ xăng có thể trả lại một lá phổi trong lành của Hà Nội, hay của Sài Gòn trong những ngày cây xanh gục ngã? Và bao nhiêu tiền nữa để những người luôn muốn chặt bỏ đi cây xanh hiểu rằng tiền không bao giờ mua được linh hồn đô thị, tiền không thể cứu chuộc được quá khứ, hay chính họ?

 

Đôi khi phải ngồi ở vỉa hè, nhìn chiếc lá rơi cạnh chân mình, mới hiểu. 

 

 

------------------------------------

Tham khảo thêm:

http://thoiviet.com.vn/xa-hoi/ha-noi-quyet-chat-ha-6700-cay-xanh-tren-pho-c1a391161.html

 

http://dantri.com.vn/kinh-doanh/tu-15-tang-thue-bao-ve-moi-truong-doi-voi-xang-len-3000-donglit-1042776.htm

Tuesday, March 10, 2015

Nơi chốn của cái “Nhất”

1

Năm năm nữa, bắt đầu từ hôm nay, tượng phật Thích Ca cao nhất thế giới sẽ được xây tại An Giang, Việt Nam. Tượng dự trù cao 81m, được khắc vào núi Sam. Theo lời mô tả trong lễ khởi công ngày 5/3, thì đây “là cơ hội để ngành du lịch tỉnh An Giang thu hút nhiều hơn nữa du khách gần xa, đưa thành phố Châu Đốc phát triển xứng tầm với tiềm năng và trở thành trung tâm thương mại, du lịch quan trọng của tỉnh An Giang”.

Năm năm nữa, không chỉ là tượng Phật Thích Ca, mà có thể sẽ có rất nhiều cái nhất nữa được ra đời trên đất nước này, cùng với danh sách những cái “nhất” mà người dân Việt Nam vẫn nghe thấy hàng ngày. Từ tô hủ tíu lớn nhất, cái bánh chưng lớn nhất… cho đến tháp truyền hình cao nhất, tượng đài lớn nhất… Người Việt đang bước vào thời kỳ chạy đua niềm vui với cái “nhất”. Cuộc đời trần tục hầm hập phả hơi nóng của cái “nhất” từ miếng ăn đến tận linh hồn tín ngưỡng, khiến mọi thứ phải là “nhất”: người ta chen nhau giật lá bùa, giật cái ấn, cướp cái phết… đến vật vã để mình được là “nhất”.

Người Việt dường như đang muốn mình đứng nhất bằng mọi giá, thậm chí tay đôi vay trả với thần thánh. Các chùa chiền, miếu đình được dân chúng rãi tiền, nhét vào tay tượng Phật… như một cách đút lót cho tương lai. Lối ứng xử không khác nào dành cho các loại tà thần, ôn hoàng, dịch lệ. Sự mê đắm hưởng thụ nhưng thiếu văn hóa tâm linh nền tảng khiến con người tin rằng chỉ cần sòng phẳng là có thể được cái “nhất” mà mình muốn. Cũng như chạy đến ngã tư, lỡ vượt đèn đỏ, nhét vội tiền cho anh Cảnh sát giao thông thì đường sẽ lại thênh thang. Thật mâu thuẫn khi mưu cầu một điều an lành cho chính bản thân mình, người Việt lại có thể chen nhau, đánh, giành giật với mọi thủ đoạn. Trong cõi hỗn loạn đó, có khi được coi là lễ hội phục dựng, cũng có khi là đời thường, mà những “nhất” được hình thành. Một loại “nhất” mà bất kỳ ai có lòng với đất nước mình cũng phải lắc đầu ngao ngán.

Nhưng liệu, người Việt đã đủ lớn để kiểm soát những cái nhất của mình chưa? Tô hủ tíu lớn nhất ở Đồng Tháp, có thể cho 1000 người ăn, được trình diễn vào đầu tháng 2 này đã phải đổ bỏ hơn 100kg hủ tiếu, 100kg thịt heo và 600 lít nước súp… vì không ăn được nữa trong một thời gian ngắn. Chính quyền ở Đồng Tháp chắc chắn không vui vì công trình kỷ lục nhất của họ không hoàn hảo. Nhưng hàng ngàn gia đình thiếu đói trong cùng thời điểm đó ở Ninh Thuận, Quảng Bình, Phú Yên, Thanh Hóa và Gia Lai… chắc không vui gấp bội trước những điều mỉa mai như vậy.

Không bao lâu, Tháp truyền hình cao nhất thế giới của Việt Nam sẽ được xây dựng. Lại có thêm một cái “nhất” nữa trong bảng thành tích của Việt Nam. Nhưng chúng ta sẽ làm gì với tháp cao ngất nhất đó khi nhiều chương trình truyền hình vẫn nằm dưới mức mong đợi của khán giả? Táo quân 2015 chỉ là một chương trình hài hước giải trí nhưng bị gây khó dễ đến mức râm ran tin đồn sẽ không còn phát tiết mục này nữa, do nhạy cảm với những vấn đề thời sự mà vốn ai ai cũng biết – những thứ nhầy nhụa thực tế ở tầng trên nhưng lại không được phép nhắc đến.

Sân bay lớn nhất ở Long Thành đang được dồn dập đòi xây, thay cho sân bay Tân Sơn Nhất chưa xài hết công suất. Liệu cái “nhất” được dựng nên, có thay đổi được nạn máy bay trễ giờ, bay-đáp nhầm sân bay, báo cấp cứu vô lý hoặc nạn sách nhiễu vòi tiền, rạch hành lý của hành khách không?

Tượng đài Mẹ anh hùng 411 tỷ đồng ở Quảng Nam cũng thuộc hàng “nhất”, nhưng trong tỷ lệ nghèo đói cả Việt Nam, Quảng Nam cũng chiếm đến 11% của cả nước. Ông Lê Văn Lai, Đại biểu quốc hội của Quảng Nam, từng mô tả rằng “Bóng ma nghèo đói vẫn ám ảnh. Những hộ cận nghèo rất dễ tái nghèo, chỉ gặp một rủi ro nhỏ trong cuộc sống, sau một giấc ngủ sáng dậy là có thể nghèo lại ngay”. Ôi, cuộc sống thật mong manh, chỉ có tượng đài là bền vững.

Chưa bao giờ Việt Nam xuất hiện nhiều chùa, nhiều tượng to lớn đến ngộp như hôm nay. Những quốc gia ngưỡng Phật như Đài Loan, Hồng Kông… trong tương lai có thể sẽ không có nhiều danh lam, đại tượng… như Việt Nam – không nhiều cái “nhất” như Việt Nam. Rồi bên cạnh những cái nhất về vật chất, nghịch cảnh về sư, ni… trên đất nước này luôn là điều khiến người ta phải trầm ngâm: liệu cứ Chùa lớn đã là có linh Phật? Trong bộ truyện Gantz của tác giả Hiroya Oku, những đền đài và tượng Phật chính là chỗ cư ngụ của quỷ. “Trong rỗng không vô nghĩa mà con người dựng nên, đó là nơi chốn tốt lành của chúng ta”, Ngạ quỷ trong Gantz vui mừng nói vậy.

 

 

---------------------------------------------------------------

Tham khảo thêm:


http://dantri.com.vn/xa-hoi/khoi-cong-xay-tuong-phat-thich-ca-cao-nhat-the-gioi-tren-suon-nui-sam-1040823.htm­­­­­­

http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/to-hu-tieu-do-di-va-can-benh-thich-ky-luc-3232918/

http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20140424/bong-ma-doi-ngheo-con-lon-von/604188.html

http://www.doisongphapluat.com/xa-hoi/hanh-khach-lai-to-bi-rach-hanh-ly-o-san-bay-tan-son-nhat-a75827.html

 Chú thích ảnh:

This is a strange monument complex in one of Russian parks. In the center of this complex there are different monuments from the Soviet Era stand, collected from different communist party locations and around it there is a stone storage for hundreds of stone heads looking from out of the bars at those communist art examples with despair. The Stalin statue by the way is already without a nose.
(http://englishrussia.com/2007/11/04/soviet-era-victims-museum/)

Wednesday, March 4, 2015

Bia miệng

Anh Huy ở Cà Mau đã tìm cách tránh mặt, sau khi gửi cho cơ quan báo chí một lô nước Soya Number 1 của công ty Tân Hiệp Phát không thể dùng được nữa, dù còn vài tháng nữa mới hết hạn. Theo mô tả, các chai nước này lợn cợn, lại có dị vật nổi bên trong chai. Đặc biệt, các chai này đều nguyên vẹn, hoàn toàn không có “dấu hiệu can thiệp từ bên ngoài”.

Theo mô tả của người tiếp xúc với anh Huy, thì do quá sợ bị công ty nước giải khát lừng danh xứ Việt này gài bẫy cho đi tù, nên anh Huy đã từ chối nhận quà xin lỗi của họ. Đầu tháng hai năm 2015 này, một người dân ở Tiền Giang, anh Võ Văn Minh, cũng đã bị gài bẫy, cáo buộc tội tống tiền và chờ án tù cũng vì không may tìm thấy một chai nước có dị vật của công ty Tân Hiệp Phát. Nhân sự kiện này, người ta cũng tìm thấy không ít người vì tố cáo các sản phẩm tồi của Tân Hiệp Phát mà vướng vòng lao lý, thậm chí trong nhiều năm.

Mà cũng lạ nhỉ, mới cuối tháng trước, đoàn thanh tra của tỉnh Bình Dương, đã dứt khoát tuyên bố mọi sản phẩm của công ty này là hoàn hảo. Cuộc thanh tra phối hợp giữa Bộ, Cục, Sở này đã hoàn thành dễ dàng đến ngỡ ngàng trong một ngày, đối với hệ thống hơn 15 loại sản phẩm, công suất hơn 1 tỷ lít/năm. Bất chấp dư luận phản ứng, thì đại diện phía thanh tra còn vặc lại rằng “truy cái gì?”

Anh Huy ở Cà Mau chắc chắn đã rất lo sợ việc mình trở thành một nạn nhân mới của Tân Hiệp Phát nên không nhận quà, không thương lượng, mà chỉ mong làm rõ về sản phẩm có nguy hại đến sức khỏe con người hay không. Nhưng ai mà không sợ, khi chứng cứ thì rành rành nhưng mọi thứ vẫn lạ lùng chống lại con người. Một nhà đại tư bản không chỉ có tiền kiểm soát truyền thông, mà thậm chí biến luật pháp thành pháo đài của mình. Trên trang wikipedia, đánh tên công ty Tân Hiệp Phát, người ta nhìn thấy nhanh nhất là cả một chuỗi thông tin nhiều năm liền những người tố cáo sản phẩm của hệ thống này đều trở thành khốn khổ.

Thời đại nào, đến một công ty sản xuất giải khát mà nhiều quyền lực giăng giăng mà dân chúng phải kinh hãi? Thời đại nào mà đoàn thanh tra khi công bố kết luận, những ai nghe thấy đều mỉm cười im lặng. Nụ cười buồn rầu như không thể thay đổi được nữa như chứng kiến lẽ tự nhiên ở đời, như con ruồi vẫn đậu vào miệng chai, mà không còn ai quan tâm đến chuyện vẫy tay đuổi đi nữa.

Chuyện xưa kể rằng Khổng Tử đi cùng học trò ngang một ngọn núi, thấy người đàn bà đang khóc tang ma. Ông mở lời hỏi thăm, được người đàn bà ấy nói rằng cha, chồng và con của bà đều bị hổ vồ chết nơi này. Khổng Tử bèn hỏi rằng biết nơi nguy hiểm vậy sao không đi nơi khác mà ở, người đàn bà nói là thân nhân chết thì buồn khổ, nhưng ở đây vẫn tốt hơn vì không có quan lại. Anh Huy sống ở thời nào nào đến khiếu nại một sản phẩm cũng sợ, đến mức Hội tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (Vinastas) kêu anh làm đơn kiện, anh cũng không dám gặp?

Có lẽ lương tâm anh Huy thúc đẩy anh phải lên tiếng khi thấy đồng bào mình gặp nguy khốn, nhưng anh cũng đã đủ dè dặt và kinh nghiệm thấy rằng phận dân đen không là gì trong buổi nhiễu nhương này, mặc cho hổ vồ có lẽ là cách chọn hơn là đối diện công quyền.

Cũng từ chuyện khiếu nại sản phẩm này, chợt nhớ đến chuyện vỉa hè sớm mai. Dân chúng nói cười với nhau đỡ buồn. Có một làng nọ trồng rau chuyên phun thuốc phát triển thực vật để mau có hàng bán kiếm lời. Nhà anh A trong làng cũng làm như vậy, nhưng quyết chỉ bán ra chợ, không ăn rau mình trồng nhằm để sống sót. Bất ngờ thay, ngày nọ anh A lăn đùng ra chết, bác sĩ khám nói là ngộ độc. Cả xóm thấy lạ nên kéo nhau vào anh A để tìm hiểu, thì thấy ngổn ngang vỏ chai nước ngọt của một công ty hàng đầu trong nước. Hoá ra anh chết không vì thuốc phun cho rau, mà chết vì hoá chất trong nước đóng chai.

Chỉ là chuyện dân gian, tầm phào nghe cho vui rồi qua, nhưng thiết nghĩ, không phải vô cớ mà nó sinh ra. Chuyện dân gian thì chắc không cần thanh tra đúng sai, nhưng chắc chắn rằng sẽ là bia miệng muôn đời.
-------------------
Tham khảo thêm:
http://www.giaoducvietnam.vn/Kinh-te/So-di-tu-khach-to-sua-dau-nanh-Soya-Number-1-khong-dam-gap-Tan-Hiep-Phat-post155976.gd

http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/thanh-tra-tan-hiep-phat-mot-ngay-dat-het-thi-truy-cai-gi/713538.html