Wednesday, September 17, 2014

Người Việt cần có một Aziz Nesin

Hầu như người Việt nào trên 35 tuổi, chắc cũng đều đã đọc qua hoặc ít nhất là đã nghe nói về Aziz Nesin (1915-1995), nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ. Lối viết văn của ông luôn trào phúng và mỉa mai về các vấn đề hiện thực xã hội - bề ngoài thì ngu ngơ nhưng lại đau thấu tận xương. Cũng chính vì vậy mà nhà văn gốc người Crimea-Tatar này từng vào tù ra khám nhiều lần theo lệnh của MAH (Cơ quan an ninh quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ) vì các vấn đề về quan điểm chính trị và có hành vi bị coi là tuyên truyền chống Nhà nước.

Tôi vẫn còn nhớ một truyện ngắn hết sức hóm hỉnh của ông, có tựa đề là Cái kính. Câu chuyện nhỏ đó nói về một người đàn ông vô danh sống trong xã hội đang bị lũng đoạn bởi có quá nhiều kẻ tuyên ngôn nhưng không biết mình đang nói gì, hoặc nói như một thói quen mị dân. Ông bị nhồi nhét vào đầu rằng ông đã có vấn đề về cái nhìn, bắt buộc phải mang kính để nhìn theo "định hướng". Cuộc đời ông bị lừa mị hết sự kiện này đến sự kiện khác. Cuối cùng một ngày nọ, vô tình bị vỡ kính, ông khám phá rằng mình có thể tự do nhìn thấy được mọi thứ - tự mình chứ không cần ai "định hướng" cả.

Câu chuyện được viết hơn nửa thế kỷ về trước, nhưng không cũ kỹ trong hành trang của con người thời hiện đại. Dĩ nhiên, với Việt Nam, thỉnh thoảng ta cũng vẫn bắt gặp lại những bài học như vậy.

Mới đây, trong câu chuyện thông báo về tỉ lệ thất nghiệp của Viện Khoa học Lao động và Xã hội, đã gây không ít bàn tán trong dân chúng. Tỉ lệ thất nghiệp quý II/2014 của Việt Nam được xác định là 1,84% mở ra nhiều ý kiến tranh biện: Liệu con số đó đã phản ánh đúng một hiện trạng Việt Nam hay không? Bản thân việc công bố một con số đơn thuần dựa theo lý thuyết điều tra, mà không có phần mở rộng, dẫn giải đúng đằng sau con số đó, liệu có là một thái độ đúng của trí thức thật lòng với đất nước, dân tộc?

Cách tính về thất nghiệp có rất nhiều lý thuyết khác nhau. Lý thuyết kinh tế Marxist có cách tính khác, các học thuyết kinh tế tư bản cũng khác, thậm chí cứ vài năm, người ta lại tìm thấy một lý thuyết mới tái định nghĩa. Nhưng bằng cách nào đi nữa, ngôn ngữ và tư duy hiện đại chỉ có một mục đích là làm rõ hơn, chính xác hơn những gì đang diễn ra, chứ không phải là việc đưa ra một con số, bất chấp phía sau nó là những vùng mịt mờ về cuộc sống thật, chưa có lời giải.

Đừng bao giờ quên rằng từ khi lịch sử văn minh loài người con người phát minh ra khoa học thống kê, thì cũng là lúc họ xác định bản chất của kết quả thống kê luôn có sự biểu đạt nguỵ biện. Chính Joseph Stalin (1879-1953), một trong những ông tổ của chủ nghĩa Cộng sản cũng đã nói rằng "Cái chết của một cá nhân được coi là bi kịch, nhưng của một triệu người thì chỉ là con số thống kê mà thôi (A single death is a tragedy; a million deaths is a statistic). Thậm chí, câu nói của nhà chính trị Benjamin Disraeli (1804-1881), Đảng bảo thủ Anh còn quyết liệt hơn "Có 3 loại nói dối: đó là nói dối, nói dối một cách khốn nạn và con số thống kê" (There are three types of lies -- lies, damn lies, and statistics).

Mọi con số thống kê về thất nghiệp ở các quốc gia đang phát triển đều hết sức phức tạp, cần được diễn giải bằng hiện thực mang tính nhân văn với mọi khía cạnh nhiễu nhương đang có. Nó không thể đơn giản tính toán như ở một quốc gia phát triển đương thời. Thất nghiệp do không được thuê mướn (unemployment) và tự mình tổ chức công việc (self-employment) cũng như đóng thuế cá nhân (income tax) ở Mỹ, Đức, Pháp... Chắc chắn không thể giống như ở Việt Nam, Campuchia hay Ấn Độ. Những con số lạnh lùng không thể nói hết được hoàn cảnh của đám đông hay của một quốc gia nếu không có thêm phần thuyết minh trung thực.

Theo lời của bà Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội Việt Nam thì người Việt vốn dễ xoay sở mưu sinh, bao gồm ngành nghề nào cũng vậy, khó khăn thì ra bán trà đá hay chạy xe ôm, nên không thể thất nghiệp. Phiến diện, thì điều đó không sai. Cố gắng mưu sinh là bản lĩnh của người Việt Nam từ bao đời nay. Nhưng chúng ta cũng cần một cái nhìn thật sự Việt Nam cho người Việt Nam. Vì nếu tỉ lệ thất nghiệp chỉ là đơn thuần các con số, có lẽ người Việt từ thời thực dân Pháp là ít thất nghiệp nhất vì ai cũng có thể chọn lao động trong đồn điền cao su, đi lính cho Tây, làm ruộng tự cung tự cấp... không ai phải thất nghiệp cả.

Nếu cách tính tỉ lệ thất nghiệp chỉ là một con số tầm thường nhằm gây lạc quan, thì tiểu thuyết Ngựa người Người ngựa của Nguyễn Công Hoan cũng đã không còn tính tố cáo hiện thực xã hội, mà trở thành một tác phẩm tào lao, vì từ người phu kéo xe kiệt sức với đôi mắt mờ đục như trái nhãn đến cô gái điếm mệt mỏi nửa đêm - không có ai là thất nghiệp cả.

Điểm lại những công việc làm lây lất kiếm sống "bán trà đá hay chạy xe ôm" được Viện Khoa học Lao động và Xã hội nói đến, nó không là chuyện self-employment bình thường. Không có ai "thất nghiệp" vì bởi họ không có một hy vọng nào từ các hệ thống trợ cấp xã hội nhiêu khê, chứ không phải vì một nền kinh tế quốc gia sung túc và quá nhiều cơ hội. Và bản thân việc self-employment "bán trà đá hay chạy xe ôm" cũng luôn mơ hồ trong sự tồn tại hợp pháp của xã hội Việt Nam.

Những thứ được bà Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội Việt Nam tạm liệt kê, trong đó có 50% là hành rong. Nhưng 50% ấy đã bị khép trong luật, nghị định cấm bán hàng rong. 50% con số thống kê "không thất nghiệp" ấy đã không được công nhận và bị truy quét khắp các thành phố. Chărng hạn, chúng ta có câu chuyện một người bán hành rong bị Đội Trật tự phường 25, quận Bình Thạnh đánh đến bất tỉnh, vất bỏ bên vệ đường, tay vẫn bị còng như tội phạm vào cuối năm ngoái (2013). Hình ảnh đó cũng nên là một ví dụ về bất cập của việc xác định thế nào là "không thất nghiệp".

Những thứ chúng ta đang thấy, những thứ chúng ta đang nghe, đôi khi cũng cần được tự mình nhìn thấy và viết lại, nói lại và khẳng định lại bằng hiện thực lịch sử. Có lẽ không gì hơn lúc này là ngồi xuống, giở sách, đọc lại truyện ngắn Cái kính của Aziz Nesin. Ông đã đúc kết trong một ít con chữ nhưng tràn đầy gợi mở.

Trong bối cảnh mà mọi thứ của xã hội đang ngày càng căng thẳng, Việt Nam thật sự thiếu một Aziz Nesin để ghi lại từng chuyện với sự trào phúng và giúp tạo ra tiếng cười - bất luận tiếng cười kiểu gì - cho dù ẩn trong đó là sự tức giận hay buồn phiền buông bỏ.

-----------------------------------------------------
Phụ lục: Về trường hợp anh thanh niên bán hành rong Trịnh Xuân Tình bị sai nha Trật tự đô thị phường 25, quận Bình Thạnh hàng hung.
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131208/dan-mang-phan-no-vu-trat-tu-do-thi-bi-to-danh-nguoi-ban-hang-rong-ngat-xiu.aspx

Friday, September 12, 2014

Vâng, dĩ nhiên chỉ là ánh sáng

Đợt triển lãm "Cải cách Ruộng đất" vừa khai mạc ngày 8 tháng 9/2014 tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Hà Nội, đã đột ngột đóng cửa 2 ngày sau đó, với lời giải thích rằng "trục trặc kỹ thuật về ánh sáng".

Buổi triển lãm ở bảo tàng vào ngày cuối cùng, được mô tả là tràn ngập các nông dân miền Bắc mất đất vào xem, theo một lời mời tinh nghịch và cũng hết sức thông minh từ trang blog Xuân Việt Nam.

Trong bản video ghi lại, người ta nhìn thấy sự hốt hoảng của các nhân viên bảo tàng khi cố gắng ngăn chận những nông dân này vào xem một cuộc triển lãm công cộng. Rõ là các nhà tổ chức, đang vinh danh cho một chiến dịch về đất đai của Đảng lãnh đạo, đã cảm thấy mắc nghẹn khi bất ngờ gặp phải những hình ảnh đối chiếu sống động và quá sắc cạnh.

Trong lịch sử, Đảng Lao Động Việt Nam dưới quyền chỉ huy của ông Hồ Chí Minh đã tiến hành một cuộc cách mạng điền địa kéo dài 11 năm (từ 1946 đến 1957), tịch thu của cải và vườn tược của hàng trăm ngàn người ở miền Bắc Việt Nam, chuyển qua cho Nhà nước quản lý. Nhưng kể từ cuộc cách mạng đó, người ta chứng kiến đến nhiều thập niên sau, là quan chức và nhiều tầng lớp cán bộ, đảng viên Cộng sản lại giàu có hơn gấp triệu lần những người bị đấu tố trong quá khứ. Họ "địa chủ" hơn, "tư bản" hơn và đáng bị đấu tố hơn bao giờ hết.

Vâng, vấn đề chỉ là ánh sáng. Sự có mặt của những nông dân Việt Nam lang thang khắp các cơ quan công quyền, cầm trên tay những xấp đơn rách nát vì mưa gió để cầu xin công lý cho đất đai tổ tiên đã mất vào tay các "nhóm lợi ích" đầy quyền lực từ Đảng, chính là một ánh sáng của sự thật. Ánh sáng đối chiếu đó làm run sợ mọi ngôn luận cực hữu, bao gồm sự thô bỉ mạt hạng như lời phát biểu của ông giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quốc gia "không nhất thiết phải phơi bày sai lầm của lịch sử".

Không chỉ sai lầm có tính lịch sử vừa được nhắc tới, mà hiện tại cũng đã đang rầm rộ trình diễn sự tối tăm đang diễn ra trên đất nước Việt Nam. Tháng 5/2012, hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo diễn ra dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các bản báo cáo mở ra một khung cảnh Việt Nam tan nát: trong số hàng triệu các đơn khiếu kiện, kêu oan, tố cáo... Có đến 70% là liên quan về đất đai. Các con số này chưa bao giờ lạc hậu. Theo thống kê của Thanh tra Chính phủ cho năm 2013, thì trung bình có 120.000 vụ/năm đệ đơn khiếu nại, tố cáo... về đất đai.

Chiến dịch Cải cách Ruộng đất đẫm máu trong lịch sử đã được chính quyền miền Bắc tuyên bố nhận sai, sửa sai. Nhưng thông tin minh bạch về một nửa Việt Nam kinh hoàng trong những ngày tháng đó, phần nhiều chỉ tìm thấy trong các bản tin không chính thức.

Việt Nam cũng có một ngày phụ nữ Việt Nam nhưng bao giờ có ai dám nhắc đến tên bà Cát Hạnh Long (Nguyễn Thị Năm) trong ngày Phụ nữ vinh quang ấy - người đã từng nuôi giấu ông Hồ Chí Minh, nhưng cũng là người bị giết đầu tiên trong chiến dịch ghê sợ này. Và cũng nửa thế kỷ trôi qua, người ta chưa bao giờ thấy một Đài tưởng niệm những nạn nhân Cải Cách Ruộng đất được hình thành. So với số lượng những nghĩa trang và đài tưởng niệm lính Trung Quốc ở Việt Nam, những linh hồn đồng bào Việt chắc chắn có quyền hờn tủi. Hãy tự hỏi, phải chăng chúng ta đã có và luôn chấp nhận một đoạn lịch sử tối tăm và thiếu ánh sáng?

Trong những ý kiến cực hữu tìm thấy trong các cuộc tranh cãi do cuộc triển lãm này mở ra, có ý cho rằng mọi phản ứng mang tính bất bình về chính sách Cải cách Ruộng đất trong quá khứ chỉ là "phong trào", và những người lên tiếng không có liên hệ trực tiếp nào đến sự kiện đó cả. Những lập luận này cho thấy thái độ chưa đủ chân thành và thẳng thắn của Nhà nước trong việc nhìn nhận lịch sử, đã tạo cơ hội cho những suy nghĩ giòi bọ vô lương tâm đến đồng bào mình. Loại người mà ngạn ngữ Nga vẫn hay trả lời với đại ý rằng "chỉ có loại heo chết mới không bàn đến nước sôi luộc thịt".

Cuộc triển lãm đóng cửa vì lý do ánh sáng, hay nói một cách khác là vết thương cũ đã hơn nửa thế kỷ lại bộc phát do thiếu minh bạch.

Bóng ma của câu chuyện Cải cách Ruộng đất vẫn còn ám ảnh, một khi cái gọi là sửa sai, nhận sai chưa đủ thuyết phục. Dù đó là giọt nước mắt xin lỗi hay hình thức đền bù theo kiểu chương hồi. Nói ám ảnh là không quá đáng, theo hồ sơ công bố của Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh, hiện tại chỉ trong 4 năm mà miền Nam đã có hơn nửa triệu đơn tố cáo, kêu oan... về đất đai. Có hay không một cuộc Cải cách Ruộng đất với hình thức khác đã chuyển từ Bắc vào Nam?

Cuộc triển lãm Cải cách Ruộng đất hôm nay đóng cửa vì thiếu ánh sáng, nhưng rồi có thể sẽ quay lại bằng một ánh sáng khác, một ngày nào đó. Và chúng ta cũng mong những vấn nạn về đất đai hôm qua cũng như hiện tại rồi sẽ được soi chiếu bằng một ánh sáng khác. Vâng, tất cả chỉ là chuyện ánh sáng mà thôi.


Tuesday, September 9, 2014

Trung Thu, trong một phút giây

Đoàn làm phim thời sự giàn giá kéo đến một trường tiểu học. Tết Trung Thu là một trong những dịp quan trọng cần ghi lại hình ảnh con nít Việt Nam ở xứ người được học về văn hoá cội nguồn như thế nào.

Một nhóm trẻ em của trường tiểu học giúp dạy tiếng Việt ở Wesminter, Mỹ, được chọn ăn mặc tươm tất, đánh răng chùi mũi cẩn thận để lên hình. Gia đình hồi hộp đứng xa xa theo dõi. Mấy đứa con nít lô nhô mặc áo dài khăn đống, đẹp như ngày Tết cuối năm.

Cô xướng ngôn viên giới thiệu, sau đó, bước vào phần phỏng vấn. Một em coi là lanh lợi nhất được đẩy tới.

"Con có biết Tết Trung Thu là gì không?". Thằng nhỏ có vẻ suông sẻ ngay câu đầu, nhưng kế đến là ngắc ngứ.

"Con có biết chơi lồng đèn không?"
"Dạ không"

Dĩ nhiên, con nít ở Mỹ hiếm khi nào được cầm một cái lồng đèn chạy tung tăng. Nếu có thì cũng ít khi đốt đèn cầy vì sợ cháy phỏng, sợ hoả hoạn... Ít xui thì cháy nhà mình, còn xui hơn thì cháy nhà hàng xóm, nên ở chợ có bán thì cũng là lồng đèn có nhạc và đèn chạy pin của Trung Quốc cho nó lành.

"Con có biết chú Cuội, cô Hằng Nga không."
"Dạ không"

Trong các trường dạy tiếng Việt cho con nít, những bài học về Mỵ Nương, Âu Cơ - Lạc Long Quân... đã làm khó các ông thầy bà cô không biết bao nhiêu mà kể vì phải đối diện với các thắc mắc trẻ con. Suy nghĩ thực tế được dạy từ mẫu giáo của một quốc gia đầy lý trí, đã khiến chúng đòi thầy cô làm rõ chuyện kể cổ tích giải trí và lịch sử. Dĩ nhiên một con rùa biết nói chuyện và một người phụ nữ có thể sinh ra một lúc 100 đứa con chỉ có thể là cổ tích nghe cho vui mà thôi, chứ không thể là chuyện nằm lòng về việc khai sinh một dân tộc. Thậm chí, đã có cô giáo được con nít hỏi rằng chú Cuội có đi 'restroom' không, tức đi vệ sinh không.

"Con có ăn bánh Trung Thu không?"
"Dạ không"

Dĩ nhiên bánh Trung Thu có bán đầy ở các chợ, nhưng con nít cũng ít khi nào được ăn vì bị coi là nhiều đường quá, không tốt cho sức khoẻ trẻ em. Trong một quốc gia có đến 29 triệu người bị bệnh tiểu đường, và căn bệnh này là 1 trong 7 nguyên nhân tử vong thì cha mẹ Mỹ hay Việt đều ngán cả.

Buổi phỏng vấn kể như thất bại. Ngày lễ Trung Thu diễn ra, thầy phụ trách bối rối giải bày rằng họ cố gắng làm mọi cách để trẻ em Việt không quên nguồn gốc của mình. "Kể cả với những đứa trẻ rồi sẽ quên quê hương một ngày nào đó", ông thầy gầy gò giải thích bằng thứ tiếng Việt cũng không còn suông. Thậm chí các sinh hoạt cũng nhằm để không bị đánh lẫn với người Tàu trong mắt người Mỹ.

"Đây là ngày hội trăng của người Tàu hả thầy?", một đứa nhỏ hỏi. Ông thầy cố gắng phân biệt, trầy trật "Đừng lẫn lộn nha, chúng ta là người Việt. Tết Trung Thu của Tàu là Chinese Full Moon Festival, còn của mình là Moon Festival nha". Sáng hôm sau, mấy đứa nhỏ đi học, khoe với cô giáo Mỹ rằng vừa ăn Tết Trung Thu, cô giáo cười thân thiện "à, Chinese Full Moon Festival à?" Mấy đứa nhỏ ngơ ngác, lao xao, giành giật ngôn ngữ với cô giáo.

Nếu là khán giả, có thể bạn sẽ mỉm cười khi thấy ở đó là một hình ảnh soi chiếu cho một điều gì đó buồn bã và hết sức mong manh.

Mùa Trung Thu năm nay ở Việt Nam cũng có vẻ rộn ràng hơn khi khi các đầu nậu nhập hàng lồng đèn Trung Quốc đã chựng lại vì căng thẳng biên giới giữa hai nước. Dân làm nghề lồng đèn trong nước mừng húm, ra tay trổ nghề. Những con phố lồng đèn trong quận 5, quận 11... làm ăn ráo riết. Những con đường sáng lung linh với cá, tôm kiểu Việt Nam. Khách vãn cảnh cũng đi xem nườm nượp.

Người người đi vãn cảnh Tết của trẻ em vẫn là chính, hơn là mua bán. Đồng tiền thời khó khăn này đang cần được dè xẻn hết mức. Điều này có thể thấy rõ trong ánh mắt tiếc nuối của phụ huynh, quay đi và dỗ dành con trẻ về chiếc lồng đèn quá tầm tay. Cũng như những cái bánh Trung Thu đắt tiền nhất thường là mơ ước của trẻ con thôi, do bố mẹ phải chắt bóp để mua tặng các mối quan hệ người lớn.

Một bà mẹ trẻ chở hai đứa con nhỏ đi xem lồng đèn. Có lẽ là lần đầu tiên chúng được chứng kiến lồng đèn đẹp như vậy. Mắt chúng tròn xoe, miệng không thể khép lại được trước các hình dạng lấp lánh như cổ tích. Bên cạnh các mẫu đèn quen thuộc, năm nay Việt Nam phát sinh kiểu đèn Trung Thu có hình hoặc khẩu hiệu Hoàng Sa, Trường Sa. Loại lồng đèn này thì người lớn có vẻ tâm đắc hơn trẻ con, nhưng báo chí thì khen ngợi dữ lắm.

Một đứa bé chỉ tay, đòi mua một cái lồng đèn. Ông bố cười, chỉ vào lồng đèn Hoàng Sa "mua cái này nhé?". Đứa bé lắc đầu, đòi mua bằng được lồng đèn có hình mèo. Trẻ con vẫn thực tế, chúng chỉ thích những gì chúng biết và gần gũi, chạm vào được hơn là những điều chỉ có trong suy nghĩ.

Trong ánh sáng huyền ảo của một ngày Trung Thu mưa gió nhiều hơn trăng đi qua, nếu bạn là khán giả, bạn sẽ mỉm cười khi thấy ở đó là một hình ảnh soi chiếu cho một điều gì đó buồn bã và hết sức mong manh.



Wednesday, September 3, 2014

Nhớ và quên

Có một câu chuyện tôi chưa từng kể với ai. Câu chuyện vẫn thỉnh thoảng gợi nhớ về những ngày đầu tiên tôi bị lôi xềnh xệch vào một xã hội chính trị, lôi vào một thế giới mà tôi luôn loạng choạng đứng ở lằn ranh mong manh, giữa những điều vĩ đại nhất hoặc ô trọc nhất.

1997, lần đầu tiên tôi bị an ninh đưa đi làm việc vì những lá thư mà tôi chuyển giùm cho mẹ của một người bạn. Nhiều năm sau tôi mới ý thức rõ hơn tầm quan trọng của người phụ nữ ấy, bà Trần Thị Thức, phu nhân của ông Đoàn Viết Hoạt. Đó là một trong những vụ án chính trị đầu tiên của Việt Nam những ngày đầu mở cửa, có cái tên là vụ án Diễn Đàn Tự Do. So với facebook hôm nay, cái bản tin chia sẻ tin tức xã hội chính trị ấy chỉ là hạng chấm phẩy. Nhưng vào năm tháng đó, nó là một trái bom.

Tôi biết lờ mờ những cái tên Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Bùi Minh Quốc... qua những bì thư mà tôi được nhờ đi gửi minh bạch qua bưu điện thay cho cô Thức và những người bạn của cô. Có khi đó là một phần của tờ Thông Luận, hoặc một tâm thư của ai đó trong Câu Lạc Bộ Kháng Chiến cũ. Tôi coi mọi thứ đó là chuyện thư tín bình thường, cũng như cô Thức đơn giản chỉ là mẹ của người bạn cùng tên, nhỏ tuổi hơn mà chúng tôi gặp nhau trong khoa Anh ngữ, Đại học Tổng Hợp lúc đó.

Không ít lâu sau, tôi đối diện với việc một đợt điều tra của an ninh Việt Nam về những bức thư đó. Sau nhiều ngày thẩm vấn, do cuối cùng nhận ra tôi chỉ là một thằng nhóc sinh viên không đảng phái, thích làm chuyện bao đồng, phía an ninh dịu giọng và chuyển tôi vào dạng giáo dục tư tưởng. Hồ sơ tiết lộ tôi là một sinh viên khoa báo chí, nên phía an ninh quyết định để tôi nói chuyện với một người lớn tuổi hơn, cùng trong nghề báo.

Cuộc gặp gỡ diễn ra ở số 258 Trần Hưng Đạo, quận 1, Sài Gòn. Người chủ trì là anh Hải, đại uý PA25, còn người đến để giáo dục tư tưởng cho tôi là nhà báo Đoàn Thạch Hãn, lúc đó là cây viết của báo Công An TP với số ấn bản ngất trời 500.000 số/kỳ.

Hôm đó, phía công an nói rất ít, nhường lời cho anh Hãn, một người dáng thô, khoẻ, nói giọng miền Trung Việt Nam.

Anh Hãn nói với tôi rất nhiều thứ về chính trị, tư tưởng, mà thật lòng, tôi bỏ ngoài tai hầu hết. Chỉ đến khi anh hỏi rằng "Em có biết trước đây anh là gì không?". Câu chuyện trở thành phần giới thiệu về anh Hãn, là người sống trong chế độ miền Nam Việt Nam Cộng Hoà, từng là một cây viết của báo Điện Tín. Sau này tôi còn được biết thêm anh Hãn, với ngày 30-4-75 là cột mốc tác động nhiều thứ đến đời anh, kể cả tù tội, khiến hôm nay anh như thế này.

Anh Hải, công an quê ở Củ Chi có đôi mắt đẹp và giọng nói mềm mỏng xin ngắt lời anh Hãn, và kể rằng vào giờ phút anh Hãn tuyệt vọng nhất, cán bộ cách mạng tìm thấy anh ở đường rầy xe lửa như định chọn cái chết. Cán bộ thuyết phục và khuyên giải nên anh Hãn đã hồi tâm và hôm nay trở thành một công dân tốt, phục vụ cho chế độ, đất nước. "Em nên coi chuyện anh Hãn như một tấm gương để sống và phục vụ cho tổ quốc", anh Hải nói.

Tôi nhìn sang anh Hãn, hai ánh mắt chạm nhau im lặng, vô hồn. Anh không nói gì, tôi cũng không nói gì. Tôi không biết câu chuyện đó của anh Đoàn Thạch Hãn có thật hay không, nhưng trong suy nghĩ của tôi lúc đó chỉ là không biết buổi làm việc hôm nay có kịp cho tôi lao đến Đại học Tổng hợp sau giờ lên lớp chiều, rồi qua Nhạc Viện cho giờ học kế hay không.

Nhiều năm sau đó, tôi không gặp lại nhà báo Đoàn Thạch Hãn, mà chỉ thấy qua các bài viết của anh trên báo Công an TP. Là một người có máu văn nghệ, tôi đọc rất nhiều các bài viết của anh về Khánh Ly, về Duyên Anh... Thậm chí cả những bài viết hoàn toàn đầy chính trị về những người không chấp nhận Cộng sản mà ra đi. Trong giai đoạn chỉ có một tờ báo với một giọng điệu nói mà không có nơi phản hồi, anh là một cây viết sáng giá, lấp lánh như một bảo đao. Văn của anh lạnh và khinh miệt khi nói về những người cùng thời với mình. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều, bỏ nhiều thời gian để đi tìm hiểu về sự sắc bén của anh Hãn, để cuối cùng tâm nguyện rằng, dù phải chết, tôi cũng không chọn nghề viết, như cách của anh.

Có lẽ đã phí thời giờ của anh Hãn vào một ngày của năm 1997, năm mà rất nhiều người Hồng Kông đã không xuất ngoại vì bị thuyết phục rằng Trung Cộng sẽ đối xử với vùng đất của mình tử tế, rất tiếc, tôi muốn mình khác.

Bất ngờ tôi nghe tin nhà báo Đoàn Thạch Hãn mất vào một ngày tháng 9/2014. Đời người vinh quang hay tủi nhục có lúc rồi cũng đến điểm cuối cùng là phu du, vô nghĩa. Tất cả những kỷ niệm của tôi bật ra. Trên các trang blog hay facebook, tôi đọc nhiều điều tranh cãi về anh, có lẽ vì anh là một nhà báo lớn hoặc anh có quá nhiều bạn bè lẫn kẻ thù. Trên đất nước này, cũng có hàng triệu người như nhà báo Đoàn Thạch Hãn nằm xuống và lại gây tranh cãi - bởi đất nước của chúng ta là một phác đồ của nghịch cảnh, phác đồ của mỗi cá nhân bị buộc phải chịu trách nhiệm thay cho các nền chính trị đã điều khiến dân tộc này, chưa thấy đủ yêu thương đã ngập hận thù.

Tất cả chúng ta đã hoặc đang là nạn nhân của chính trị. Nhưng chắc chắn chúng ta cũng có một phần trách nhiệm, không thể chối cãi trong những bước đi của đời mình. Tôi cũng vậy, và anh cũng vậy.

Trên facebook của nhà báo Huỳnh ngọc Chênh, tôi thấy anh ghi lại một mẩu trò chuyện với nhà báo Đoàn Thạch Hãn rất thú vị. Trong đó, câu nói đáng nhớ của anh Hãn rằng "mình rất tiếc đã tự bôi đen đời mình quá nhiều", khi nhắc đến những gì đã làm, đã viết. Trong ký ức cỏn con ập về, tôi nhớ lại những bài báo của anh Đoàn Thạch Hãn viết về văn nghệ sĩ đã tị nạn, về những cộng đồng Việt ngoài Việt Nam với khả năng nhuần nhuyễn của ngợi ca và phỉ báng. Tôi cũng nhớ đến đất nước này, với nhiều con người tự thú điều bí mật vào những phút cuối đời. Tôi cũng nghĩ về một ngày rất cũ, rằng không biết anh có thật sự muốn tôi học bài học ngày hôm ấy, trước mặt viên sĩ quan PA25 hay không. Nhưng mẩu đối thoại từ facebook của anh Huỳnh Ngọc Chênh, là phần kết quý báu của bài học mà tôi nhận được từ nhà báo Đoàn Thạch Hãn, cho việc chọn một lẽ sống đúng trên đất nước này.

Người Việt hay nói đến câu "nghĩa tử là nghĩa tận" để bày tỏ sự hoà ái cho một người đã ra đi. Nhưng "tận" không hoàn toàn có nghĩa là hết hẳn. Nếu chúng ta im lặng và chối bỏ những gì đã có, và chôn vào quên lãng tất cả là giả dối và khốn nạn với lịch sử con người. Đúng là có những thứ cần phải quên, nhưng có những thứ cần phải nhớ. Thậm chí chính người đã mất cũng ước muốn chúng ta phải nhớ.

Nhớ, để đó là một bài học dành cho chúng ta về kiêu hãnh hay điếm nhục trong cuộc sống, nhưng hãy quên, vì độ lượng thứ tha trong trái tim của mỗi con người, để chia sẻ về những điều cay đắng thầm kín của người dành lại, trong gia tài khốn khó của quê hương này.

Tuesday, September 2, 2014

Những gáo nước lạnh cho ý thức

Trong một nghiên cứu được công bố vào ngày 28 tháng 8, tổ chức ALS, tức nơi đang sở hữu trò chơi thách thức dội nước đá (Ice Bucket Challenge, tạm gọi IBC) cho biết họ lấy làm tiếc rằng có đến 73% số tiền gọi là tham gia trò chơi này để quyên góp từ thiện, đã hoàn toàn sai mục đích. Đã có quá nhiều người dùng trò IBC này để đánh bóng tên tuổi cũng mình, làm trò ruồi và cười vui ngớ ngẩn trên nghĩa cử của người tạo ra trò chơi này cho mục đích nhân đạo.

Cũng như mọi điều mới lạ ập đến từ thế giới bên ngoài, trong vài tháng nay, Việt Nam đã mau chóng bắt chước với những trò trình diễn IBC trên truyền hình cũng như trên các trang mạng xã hội, với mục đích tạo sự kiện cho chính bản thân mình hơn là một giá trị nhân văn. Tiền thu được của các cuộc IBC chỉ thường dùng vào các cuộc ăn nhậu hay giải trí – thay vì góp vào việc trợ giúp các bệnh nhân đang đau đớn.

Vì sao lại dội nước đá? Cơn lạnh buốt ập đến cùng sự tê dại, nhắc cho bạn biết rằng những bệnh nhân đang mắc chứng suy giảm thần kinh cơ hoạt (Amyotrophic Lateral Sclerosis) đã trãi qua những cảm giác như thế nào, ít nhất là vậy. Nó không giống với những lời thách thức ẽo ợt và trình diễn bản thân, sau đó là những thùng, tô nước đá để kết thúc cho vở kịch ngắn Việt Nam tệ hại mà chúng vẫn hay thấy trên youtube hiện nay.

Cũng cần nói thêm, ALS cũng chưa hề nhận được đồng nào từ Việt Nam, cho các màn biểu diễn rầm rộ gần đây.

Nhưng ngoài các câu chuyện tự làm rõ bản thân đó, mà chúng ta vẫn thấy hiện nay, ý nghĩa của trò chơi có bản quyền IBC như đang gợi ý rằng, có lẽ Việt Nam cũng nên tạo ra một kiểu trò chơi thách thức như vậy, đại loại như CWC (Cold Water Challenge), nhằm đánh thức bản thân mình, đánh thức một giá trị sống tử tế.

CWC, tạm diễn giải theo tiếng Việt, là trò “tạt một gáo nước lạnh”. Có rất nhiều loại người, có rất nhiều sự kiện mà người Việt vẫn chứng kiến hàng ngày chung quanh mình, đang thật sự cần một trò chơi tự tạt một gáo nước lạnh vào mặt, để nhận ra mình đang làm gì, và điều gì đang diễn ra trên đất nước này. Việc tự tạt một gáo nước lạnh vào mặt mình, hay thách thức nhau cùng làm, có lẽ sẽ là một động thái nhắc nhở cần thiết trong một xã hội đang quá ù lì, con người phô diễn với nhau nhiều hơn là thật lòng, những điều dối trá thì được che đậy bằng nguỵ ngôn tầm thường đến mức, ở mỗi quán cà phê vỉa hè, cùng mở tờ báo sáng ra đọc, ai ai cũng dễ dàng nghe thấy chung quanh tiếng phản ứng bật lên bất kỳ.

Chẳng hạn như trong sự việc tự xử mình thắng kiện của Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau với khiếu nại của bà Nguyễn Ánh Minh về việc bà bị xử oan, bị giam 562 ngày, tán gia bại sản. Cũng cần ai đó trong ngành luật thách thức những người chịu trách nhiệm của vụ án này tại Cà Mau, hãy tạt một gáo nước lạnh để nhận rõ vị trí và giá trị của mình trong xã hội, giữa tiếng than van của dân chúng.

Hay chuyện về ông Phùng Văn Cung bị Toà án Nhân dân Gia Lai – Kon Tum xử tù về tội lường gạt, 30 năm sau mới giải oan được thì ông đã chết. Trong quá trình xét xử, con của ông Cung là bà Phùng Thị Kim Oanh quỳ lạy trước cổng toà án để xin hai chữ công tâm, sau đó cũng bị tù vì tội “hành hung nhân viên toà án”. Cả một gia đình đã có người chết, nghèo đói, sụp đổ vì oan khiên này. Những người tham gia xét xử vụ án chắc cũng cần tham gia trò chơi tạt nước lạnh vào mặt mình để biết rằng số phận con người là ý thức hàng đầu phải có, khi nắm trong tay quyền lực.

Trong trường hợp ông Bùi Thắng, ở Tân Phú, TP.HCM thì có lẽ khác. Có lẽ ông cần thách thức công an viên ở phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, TP.HCM tự tạt một gáo nước lạnh vào mặt, về việc con của ông tố cáo vô cớ bị bị công an phường này chận giữa đường, đánh đập trọng thương, sau đó đòi phải nộp 20 triệu đồng mới được chuộc ra. Hoặc chị Lý Nguyễn Minh Nhị, ở quận 3, TP.HCM, cũng nên thách thức nhóm cảnh sát giao thông chốt Hàng Xanh tự tạt gáo nước lạnh vào mặt, khi chị nghe thấy họ trả lời “Đây là việc của chị, không phải cùa chúng tôi”, khi chị lên tiếng cầu cứu giữa đêm khuya. May ra, những gáo nước lạnh có thể giúp họ nhận ra sợi dây liên kết của con người với đời sống văn minh là đâu. May ra, một gáo nước lạnh có thể cứu vãn được một điều gì đó. May ra!

Chúng ta đang thật sự cần những gáo nước lạnh cho đời sống hừng hực nóng đầy tính duy lợi này. Những nhà trí thức nguỵ quân tử, những quan chức vội tuyên bố rồi quên, những tập thể chỉ biết vỗ tay và bấm nút cho những đề án cưỡng bức túi tiền người dân… Những gáo nước lạnh cần thiết để tạo nên cú sốc, nhắc về lòng tự trọng và nhân cách mà mỗi người cần phải có.




-----------------------------

* Toà Cà Mau tự xét xử mình thắng kiện
http://tuoitre.vn/tin/phap-luat/20140828/toa-an-tu-xet-xu-minh-va-tuyen-thang-kien/638518.html

* Quỳ lạy xin hai chữ công tâm, án oan 30 năm
http://phaply.net.vn/ben-khung-cua-tu-phap/ho-so-vu-an/ha%CC%A3u-vu%CC%A3-an-oan-cach-day-hon-3-tha%CC%A3p-ki%CC%89-o-gia-lai-nguoi-bi%CC%A3-ham-oan-da%CC%83-chet-gia-dinh-nguoi-bi%CC%A3-oan-qui-la%CC%A3y-to.html

* Chuyện công an đánh người vô cớ, đòi tiền chuộc
http://baobaovephapluat.vn/phap-luat-ban-doc/dieu-tra-theo-don-thu/201408/cong-an-phuong-binh-tri-dong-a-danh-nam-thanh-nien-tim-bam-rap-co-the-2355105/

* Công an bỏ mặc phụ nữ giữa đêm
http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/tin-tuc-thoi-su/csgt-khong-cho-co-gai-di-nho-de-tranh-cho-toi-3047389/

Tuesday, August 26, 2014

Giá của một nghệ sĩ cung đình

image



Thành Long (Jackie Chan) rất bình tĩnh nói rằng mình chịu mọi trách nhiệm về việc con trai mình bị bắt vị tội sử dụng và buôn ma tuý. Ông nói trách nhiệm rất lớn thuộc về ông, với tư cách là một đại sứ chống nạn ma tuý do Trung Quốc đề cử từ năm 2009.

Phòng Tố Danh (Jaycee Chan), người con trai 32 tuổi của Thành Long bị bắt vào ngày 14 tháng 8 vừa qua, tại quận Đông Quan, Bắc Kinh, trong một cuộc bố ráp đầy chủ ý của công an trong việc 'dằn mặt' ngôi sao điện ảnh Thành Long, mà lâu nay vẫn được coi là nhân vật công chúng làm đẹp  cho nhánh Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, Giang Trạch Dân.

Viết trên trang blog của mình thuộc hệ thống mạng Vi bác (Weibo), Thành Long vẫn rất bình tĩnh như một chính trị gia "Tôi và Danh cúi đầu xin lỗi xã hội". Trang blog có đến 23 triệu người theo dõi của Thành Long quan trọng không kém như một cơ quan văn hoá của nhà nước vì sự theo dõi chặt chẽ của công chúng, và cũng là nơi mà Thành Long nhiều năm nay sử dụng nó như một công cụ để bày tỏ các quan điểm có lợi cho chính sách cầm quyền của Nhà nước Bắc Kinh hoặc cho các nhân vật chính trị mà Thành Long nương tựa vào đó.

CNN dẫn lời của Thành Long, cho biết ngôi sao điện ảnh này "hết sức giận dữ" trước việc làm của con mình. Thế nhưng trái lại với cảm giác mà ông ta trình bày, người ta vẫn nhận thấy sự bình tĩnh và khôn khéo của Thành Long trước công chúng, không khác gì cách mà ông lấy được lòng nhà nước Bắc Kinh, trở thành một trong những nghệ sĩ có quyền lực riêng trong bóng tối chính trị, dù xuất thân của ông là một người thành đạt từ Hương Cảng, từ lúc vùng đất này thịnh vượng trong tay của người Anh.

Những lời đồn đãi và tin tức thực tế ở Hương Cảng lúc này, cho thấy thời đại những người hoạt động nghệ thuật mượn chính trị để tiến thân như Thành Long đang đứng trước bờ vực thẳm, nền chính trị thanh toán lẫn nhau, tiếm quyền, vây cánh riêng của Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai, Giang Trạch Dân... khi sụp đổ, đã để lộ những hình ảnh những vương triều bí mật, trong đó những người như Thành Long đã sớm chọn phe và biến mình thành những nghệ sĩ cung đình. Báo chí Trung Quốc đã ám chỉ nhiều về chuyện Chương Tử Di dính líu đến các quan chức cấp cao, hoặc trực diện tấn công vào hệ thống tuyển mỹ nữ cho các 'ngài' từ CCTV, đài truyền hình lớn nhất Trung Quốc.

Hơn một thập niên nay, từ khi thế lực chính trị của  Thành Long vững chắc hơn, các bộ phim của ông cũng dần nhạt hơn, và không còn dấu ấn nào như thời kỳ các bộ phim Tuý quyền (1978) hay Quán ăn lưu động (1984). Những phát ngôn lấy lòng chính quyền Bắc Kinh về cai trị đã khiến dân chúng Hương Cảng, Đài Loan... ngày càng bất mãn. Ngày 1/6 vừa rồi, khi nửa triệu người Hương Cảng xuống đường đòi dân chủ và tự do, Thành Long đã nhắc lại câu nói từng làm thất vọng hàng triệu người hâm mộ "sai lầm của chúng ta là đã để cho Hương Cảng có quá nhiều tự do". Nhưng đó không chỉ là một lần, Thành Long nhiều lần chứng minh vai trò nghệ sĩ cung đình khi nói những điều như "Người Trung Quốc cần bị kiểm soát" hay "Đài Loan bầu cử à? Thật là một trò cười".

Tờ Epoch Times cho biết danh sách 10 cái tên thuộc hàng cặn bã lừng danh của Trung Quốc do dân chúng bầu chọn trên mạng, có tên Thành Long trong đó. Trong những ngày tháng Giang Trạch Dân cầm quyền, giết và mổ lấy nội tạng hàng chục ngàn người Pháp Luân Công, Thành Long đã né tránh khi được báo chí phương Tây phỏng vấn. Thậm chí, sau khi nói rằng mình không biết gì cả, Thành Long đã cười, nói thêm "ở Trung Quốc, người ta có thể nghe thấy rất nhiều tin đồn".

Một người bạn người Hoa gốc Quảng Đông, đi du lịch Hương Cảng từ năm 2009, như một cách về thăm quê, đã kể rằng "Thành Long bị dân chúng xem như một kẻ khốn nạn, vì lên truyền hình kêu gọi bỏ tiếng Quảng trong trường học, chỉ nên cho dạy tiếng phổ thông, theo ý của Bắc Kinh". Rất nhiều người Hoa ở Chợ Lớn, Sài Gòn, đã kể cho nhau nghe và tẩy chay Thành Long vì kiểu bám đuôi chính trị của ông ta. "Không hiểu sao báo chí tiếng Việt lại rất ít người nói về điều này". Người bạn này nói.

Thành Long hôm nay khôn khéo và giảo hoạt hơn rất nhiều, không giống những bộ phim vào vai khờ khạo và đáng yêu mà ông đã chiếm được cảm tình khán giả. Người nghệ sĩ tự vẽ lên mặt mình nhiều màu sắc và nhăn nhó, múa may theo yêu cầu chính trị đã bóp chết tài năng của mình, thậm chí tự bóp chết giá trị sống như một người bình thường, để trở thành một bài học đáng nhớ cho đời sau, khi người có học tự bán mình cho quyền lực và danh lợi.

Điều mà người ta tự hỏi là giá nào để một người nghệ sĩ tự biến mình thành những tên hề ngắn hạn cho các sân khấu thô bỉ như vậy? Thật khó để định được giá như vậy từ những trái tim bình thường. Có thể giá chỉ được định từ những trái tim thô bỉ không kém các sân khấu ấy, mà không chỉ Trung Quốc, mà ở bất kỳ một quốc gia suy đồi nào cũng luôn có những kẻ chực chờ xin được bán mình để được làm nghệ sĩ chốn cung đình, làm văn nô như vậy.

Wednesday, August 20, 2014

Lời cam kết từ con buôn

Có vẻ như những người đề xuất nên cuộc cách mạng sách giáo khoa điện tử đã không còn đủ sức bình tĩnh trước món lợi 4000 tỷ sẽ đem về, nên họ đang làm tất cả mọi thứ để thúc giục cho một cuộc chuyển đổi đầy bất cập mà ai cũng nhìn thấy. Để thuyết phục tốt hơn việc các phụ huynh trên toàn quốc gia phải chi tiền cho sách giáo khoa điện tử (*). Rất nhiều lời cam kết về sản phẩm này đã xuất hiện, nhưng ngay từ đầu, ở mọi phía đã hiện rõ tính cách con buôn vô trách nhiệm trong việc thèm muốn bán được hàng hơn là một chiến lược đầy khát vọng trong sáng cho một quốc gia.

Tạm khoan nói về giá trị của cái máy tính bảng giá rẻ - mà khả dĩ sẽ làm từ nguyên liệu của Trung Quốc – chúng ta hãy nói về các cam kết mong manh của những người bán hàng đa cấp – thuộc tầm quốc gia này, ở nhiều khía cạnh.

Sở giáo dục TP.HCM nhấn mạnh trong các quảng cáo của mình, nói rằng học sinh chỉ có thể dùng sách giáo khoa điện tử vào việc học, và sẽ không thể chơi game trên máy này. Đây là một cam kết về mặt kỹ thuật mà bất cứ cửa hàng bán điện thoại hay máy tính bảng hàng thấp nhất nào của cấp huyện cũng phải phì cười. Chuyện ‘hack’ hay ‘root’ một chương trình điều hành android của máy tính bảng – hiện nay đã trở thành trò chơi tại nhà – đã quá phổ biến. Cam kết một điều không thể tuyệt đối trong ngành công nghệ thông tin, chỉ có thể là từ một cá nhân hay tập thể quá dốt nát, hoặc quá gian xảo và lừa gạt để chỉ để bán hàng. Quả thật dễ dãi để tuyên ngôn!

Sở giáo dục TP.HCM cất tiếng hô vang như một cuộc cách mạng – dĩ nhiên, ắt phải có sự đồng thuận của Bộ giáo dục và Đào tạo, cho cuộc bán hàng mang tính cưỡng bức, trong đó cài sẳn toàn bộ các bản sách giáo khoa từ lớp 1 – 12 trong chiếc máy tính bảng. Nhưng điều mà người ta không tìm thấy, đó là giá trị mở lâu dài của hệ thống sách giáo dục điện tử này. Tập hợp các bản sách giáo khoa đó vào một bộ khung với “giá rẻ”, có thể được coi là một phương án mới của con buôn trong ngành giáo dục, và vô hình trung cũng chứng minh rõ thế độc quyền của nhà phát hành sách giáo dục, mà vốn gần 40 năm nay, có đủ các ví dụ chứng minh rằng đã luôn sai lầm và lạc hậu trong các ấn bản giáo khoa.

Xin Sở và cả Bộ đừng cố ý quên rằng sách giáo khoa là tài sản quốc gia, được sử dụng trong mục đích miễn phí bản quyền cho việc giáo dục quốc dân. Việc kinh doanh hoặc nhượng quyền kinh doanh trong một mô hình khác, thật sự là điều đáng buồn giữa thời buổi dễ làm tiền hôm nay. Hãy thử đặt câu hỏi, tại sao người ta lại không bán máy tính bảng với giá rẻ, hoặc để phụ huynh tự lựa chọn tablet cho con mình, rồi điều hành việc tải về các bản sách giáo khoa miễn phí, hoặc có giá hợp lý trong việc duy trì hệ thống? Chỉ duy việc kinh doanh các bản ebook sách tham khảo, sách bài tập thêm… của từng lớp, nếu biết khai thác cũng là nguồn thu đúng và dồi dào cho những nhà xuất bản có suy nghĩ về tương lai.

Chúng ta vẫn thấy những chuyện mua bán và trục lợi trên đất nước này mỗi ngày. Nhưng bán mua nhân danh vì tri thức của thế hệ, ít ra cũng phải có một ai đó chính danh cam kết chịu trách nhiệm rõ ràng. Thật đáng kinh tởm, nếu như một ngày nào đó xảy ra sai lầm hay khủng hoảng từ hệ thống sách giáo khoa điện tử này, người ta chỉ nghe được câu trả lời rằng “sẽ rút kinh nghiệm”, hay “tự kiểm điểm nghiêm khắc”… Người dân - với tư cách là người mua hàng – dù bị cưỡng bức mua, thì cũng cần được ứng xử văn minh, chứ không thể bị lừa đảo một cách hoang dã. 4000 tỷ mồ hôi nước mắt từ một nước nghèo như Việt Nam, cần lắm một cam kết có giá trị con người. Và cũng đừng quên 4000 tỉ chỉ mới là thí điểm ở một thành phố với các lớp 1,2,3. Con số tổng cho việc áp đặt đại trà, còn lớn hơn gấp nhiều lần.

Trong những câu chuyện hàng chục ngàn học sinh Việt Nam bỏ học vì thiếu ăn, vì không đủ tiền mua tập vở đến trường. Sẽ có thêm bao nhiêu đứa trẻ sẽ ngậm ngùi từ giã lớp học vì một cái máy tính bảng "đại nhảy vọt" của Sở hay Bộ giáo dục Việt Nam? Những nhà cách mạng giáo dục điện tử này sẽ cam kết gì khi áp đặt thêm một gánh nặng cho các học sinh nghèo? Hãy tự hỏi, phải chăng, câu nói nổi tiếng của ông Nguyễn Thiện Nhân trên báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 6/9/2007 “Học phí chắc chắn sẽ phải tăng, có thể chấp nhận cả việc một số người đi học sẽ giảm vì tăng học phí", đang là kim chỉ nam của ngành giáo dục Việt Nam, bất chấp mọi đạo lý?

Tiếc cho một quốc gia và một thành phố mạnh mẽ nhất nước. Nơi đó, người ta không nghe thấy tiếng vang lên của tri thức tử tế, mà chỉ nghe tiếng vang của đồng tiền và những lời cam kết vô giá trị của con buôn.

-------------------------------------

(*) nội dung bài viết nhằm hướng đến đề án 4000 tỉ đồng của Sở giáo dục Tp.HCM. Trong các phiên bản đang xuất hiện trên mạng, có nơi lưu lại ấn bản cũ với cách gọi Classbook. Đây là một hình thức gọi tên để người đọc dễ hình dung về một loại máy tính bảng - sách giáo khoa điện tử đã được giới thiệu lâu nay, nhưng không liên quan gì đến Classbook, sản phẩm đã đăng ký nhãn hiệu, của công ty SGK điện tử EDC - trực thuộc NXB Giáo dục Việt Nam.