Thursday, July 13, 2017

Cho những người không quen





Tháng 12 năm 2012, tôi nhận được một email rất lạ. Người gửi cũng từ một người không quen, ở mãi tận Nam Phi. Lá thư điện tử đó từ Tổng giám mục Desmond Tutu. Ông là nhà lãnh đạo tôn giáo lừng danh chống lại chủ nghĩa kỳ thị và đấu tranh cho giá trị con người, đã từng nhận giải Nobel Hòa Bình vào năm 1984, giải Gandhi Hòa Bình năm 2007, và nhiều giải thưởng cao quý khác. 

Lá thư của ngài Desmond Tutu kể với tôi rằng, ở đâu đó tại nước Trung Quốc cộng sản, có một người bạn của ông tên là Lưu Hiểu Ba đang bị cầm tù và chịu đựng bệnh tật như một cách trả thù của chính quyền. Đơn giản chỉ vì ông Lưu lên tiếng tranh đấu cho tự do và quyền làm người. Ngài Desmond Tutu muốn tôi cùng góp một chữ ký vào thư kêu gọi Nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc hãy trả tự do cho ông Lưu Hiểu Ba, trong một chiến dịch của thế giới văn minh cùng gõ vào cánh cửa độc tài, mà đứng ở hàng đầu là hơn 130 khôi nguyên của các giải Nobel qua nhiều thời kỳ.  

Vào thời điểm khi tôi nhận được lá thư này, giáo sư Lưu Hiểu Ba đã được vinh danh với giải Nobel Hòa Bình vào năm 2010, nhưng Bắc Kinh đã từ chối không cho ông sang Thụy Điển nhận giải, thậm chí đã phản ứng gay gắt, gọi việc xướng danh ông Lưu Hiểu Ba là một sỉ nhục của  giải Nobel.  Có đến 19 nước trong số 65 quốc gia được Viện Hàn Lâm Thụy Điển mời đến dự lễ trao giải, đã phải lên tiếng sẽ vắng mặt vì bị áp lực của Trung Quốc, trong đó có Cuba, Venezuela,  Nga… và dĩ nhiên, có cả Việt Nam.

Ông Lưu Hiểu Ba bị kêu án 11 năm tù giam, với luận điệu “âm mưu lật đổ chính quyền”, loại tội danh mà một số quốc gia độc tài vẫn luôn sử dụng trong niềm hoang mang thầm kín về chuyện “lật” và “đổ” của chế độ mình, bất chấp sức cai trị luôn được ngày đêm củng cố bằng công an, quân đội và các loại luật lệ áp đặt thô bỉ. 

Khi đó, ông Lưu vẫn là một người khỏe mạnh.

Trước khi bị giam cầm, ông Lưu Hiểu Ba, trong vai trò là một giáo sư vẫn dùng tiếng nói của mình để thúc giục sự đổi thay và cảnh tỉnh về sự dã man của chế độ trong cơn bấn loạn quyền lực. Những chi tiết ghi lại trong thời điểm 1989 ở Thiên An Môn cho biết, ông Lưu Hiểu Ba đã tìm mọi cách để thương thuyết, giải cứu hàng trăm sinh viên không bị thiệt mạng dưới lưỡi lê và xích xe tăng của quân đội. Giống như nhiều nhà bất đồng chính kiến khác ở Trung Quốc, thông tin và tên của ông Lưu bị kiểm duyệt trên báo chí, trên internet nhằm tẩy não người dân quên lãng ông. Chính vì vậy, giải Nobel Hòa Bình như sự tỉnh thức về lương tâm và nhân cách của một người Trung Quốc đã khiến cả thế giới dõi theo và xao động. 

Đây không phải là lần đầu tiên trong đời mình, tôi để xuống một chữ ký vô danh của mình trong một thế giới quá rộng lớn và mỗi ngày hiện thực càng thêm tàn bạo. Đó là lần đầu tiên, tôi ký trong sự bồi hồi về một con người không quen biết, và cầu mong ông được tự do, như chính ông hy vọng trong câu nói quen thuộc “Hy vọng rằng tôi sẽ là nạn nhân cuối cùng trong cách đối xử có chiều dài kỷ lục của chính quyền Trung Quốc luôn xem việc lên tiếng như là tội phạm”.

Và rồi, hôm nay, tôi hay tin ông Lưu Hiểu Ba qua đời ở tuổi 61. Hàng triệu người ở đại lục hay Hồng Kông, Đài Loan chắc sẽ rất buồn. Hàng triệu người khác không cùng màu da tiếng nói với ông Lưu chắc cũng vậy, cũng sẽ thất vọng, trong đó, không thể thiếu những người đã từng góp một chữ ký vào bức thư mà ngài Desmond Tutu khởi xướng.

Tôi bỗng chợt nhớ đến những lá thư ngỏ, những cuộc vận động không ngừng nghỉ trong đất nước mình để đối phó với các sự kiện mỗi ngày. Thật không đếm hết những lần tôi và bạn bè mình đã ký vì Hoàng Sa, Trường Sa hay Formosa… Lúc thì cho một phụ nữ đơn thân bị cầm tù khắc nghiệt, khi thì môi trường bị tàn hại thương tâm, hoặc vì những nạn nhân chết quá bất thường trong đồn công an. Đã từng có lúc, tôi thấy một người bạn tức giận kêu lên, mệt mỏi rằng “liệu các thư này, chữ ký này có lay động được gì, có ích lợi gì không?” .

Cũng như vậy, Bắc Kinh có lay động gì qua những chữ ký của thế giới đòi tự do cho ông Lưu Hiểu Ba, hay chỉ là thoáng cau mày rồi kiên quyết giam cầm ông cho đến chết? 

Trong diễn từ của mình được đọc tại lễ trao giải của Viện Hàn Lâm Thụy Điển, ông Lưu Hiểu Ba có viết rằng “Tôi không có kẻ thù, và cũng không có lòng căm thù”. Tuyên bố cuối cùng của ông trước thế giới, xác lập một tư thế chọn lựa minh tuệ, rằng cái ác hay chế độ độc tài không phải là thứ để đối đầu mà là một hiện trạng tăm tối cần được kiến giải, khai mở cho tiến trình đổi thay.

“Tôi không thấy mình có tội gì khi sử dụng quyền tự do phát biểu hiến định, để làm tròn trách vị công dân của mình. Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế, tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả”, diễn từ của ông kết thúc như vậy. Thật dễ hiểu. Phần của kẻ ác, của chế độ độc tài sẽ làm hết tất cả những gì thuộc về cực của chúng. Và phần của những con người yêu sự thật, yêu tự do và lẽ phải cũng cần làm hết sức những gì mà mình có thể. Đó là một tiến trình mà lịch sử văn minh nhân loại đã chứng minh rằng Chúa Jesus, Đức Phật, Gandhi hay Martin Luther King… đã đi qua và dựng nên chân lý.

Như tôi đã từng để xuống một chữ ký cho ông Lưu Hiểu Ba, và tôi cũng sẽ không ngần ngại ký một lần nữa, cho ai đó, vì lẽ phải và sự thật, dẫu có lúc tức giận hay thất vọng. Vì chữ ký nhỏ, như một cam kết rằng tôi hay chúng ta chọn đứng về phía loài người yêu sự công chính.

“Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế, tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả”, tôi đọc lại một lần nữa lời kết của ông Lưu Hiểu Ba. Tôi nhớ đến nụ cười hiền lành của ông, như nghĩ đến nụ cười của loài người nhẫn nại trong niềm hy vọng bất diệt. 


Sunday, June 18, 2017

Chuyện kể nhân ngày của Cha


Tôi ghi lại câu chuyện có thật, với bản video dưới đây như một phút suy niệm dành cho những người Cha đang - hay sẽ - đối diện với con cái của mình, mỗi ngày, từ nay và đến về sau.

Câu chuyện diễn ra ở toà án tại Mỹ. Một ông bố ra toà vì tội đậu xe sai chỗ và có thể bị phạt đến 90$.

Bất ngờ, khi phiên toà bắt đầu, cậu bé 5 tuổi - con trai của bị cáo - đột nhiên leo xuống ghế và tiến đến gần chỗ bố cậu đang đứng. Những ai đang có mặt tại phiên toà đều buồn cười. Vị quan toà cũng vậy. Điều đáng yêu là ông đã mời cậu bé lên chỗ của ông để phỏng vấn về tình trạng phạm tội của bố cậu.

Khi vị quan toà hỏi cậu bé, tên là Jacob, rằng nếu cậu chọn lựa mức phạt nào, số tiền 90$ và 30$, hoặc miễn phạt cho bố cậu thì Jacob đã đáp nhanh là nên phạt mức 30$. Mọi người trong phòng xử án đều bật cười.

Vị quan toà với gương mặt phúc hậu cũng bật cười. Và ông hỏi rằng cậu có đồng ý không nếu ông phạt bố cậu bé số tiền 30$ nhưng là dùng số tiền đó đưa cậu đi ăn sáng, Jacob gật đầu. Câu chuyện kết ở đó, có hậu như một cổ tích ở đời thường.

Nhưng điều tôi muốn kể với các bạn ở đây, đó là thái độ của cậu bé về bố của cậu. Khác với những điều mà nền văn học hay giáo dục cũ mòn hay thích thêu dệt về bố hay mẹ của mình như siêu nhân hay tô vẽ như huyền thoại, cậu bé Jacob khi được hỏi bố cậu giỏi nhất là gì, cậu đã trả lời nhanh, không chút do dự rằng "dạ là nấu ăn".

Và ngay khi quan toà hỏi rằng lớn lên, cậu bé ước mình sẽ làm giỏi nhất điều gì, Jacob nói ngay - với sự tự hào thấy rõ về bố mình - rằng cậu cũng sẽ nấu ăn, nhất là pizza, vì bố cậu cũng vậy.

Cuộc sống thật lạ lùng và cảm động, bạn thấy không? Một người bố lương thiện dù chỉ là vô danh cũng có thể làm cho đứa con mình tự hào, trưởng thành và tự tin noi theo về cuộc đời lương thiện của mình mà không màng một ánh hào quang danh lợi xa xôi nào khác.

Tôi tạm gọi đó là cuộc sống tử tế, mà người cha đó đã đối diện với con mình mỗi ngày, rồi giản dị tạo nên một thế hệ tử tế nối tiếp. Bình thường mà cao đẹp đến cảm động.

Tôi viết những dòng này, và nhớ đến những công an viên đang hung ác bạo hành với người dân trong đất nước mình, Việt Nam. Những công an viên đã tàn bạo đạp gãy xương đùi ông Kình ở Đồng Tâm, những công an viên đã giết chết anh Nguyễn Hữu Tấn ở Vĩnh Long hay anh Ngô Chí Tâm ở Thủ Đức... trong những trại tạm giam ngột ngạt sự thật. Dù truyền thông nhà nước có bao biện hay che đậy thế nào, ai ai cũng hiểu điều gì đã xảy ra. Và quan trọng nhất là chính những thủ phạm đó đều biết rõ họ đã làm gì.

Chắc không ít người trong số công an viên đã là những người cha. Và chắc chắn từng người ấy rồi sẽ có một gia đình và những đứa con mà họ sẽ đối diện mỗi ngày.

Những đứa trẻ ấy sẽ noi theo cha mình điều gì? Dù có giáo dục tốt nhất, có cắt đứt quá khứ... nghiệp chướng vẫn bao vây họ, chồng chất bởi những oán hờn. Mà sự thật thì không bao giờ có thể che giấu mãi mãi.

Chắc không kẻ nào, dù hung ác, lại muốn con mình noi gương, trở thành sát nhân. Nơi những ngôi nhà tưởng chừng vững chắc với quyền thế hay địa vị, không hẳn các người cha ấy sẽ vui mừng khi con cái đối diện với mình, ngày nào đó tuyên bố rằng chúng thích giết người như cha mình. Những ngôi nhà lộng lẫy, được thời chưa chắc rồi đã hạnh phúc khi mầm ác được nuôi dưỡng im lặng, từ chính người Cha của mình.

Trong phần trò chuyện với Jacob, vị quan toà có nhắc về vua Solomon (vua của Israel cổ đại, mất năm 931 trước CN). Đó là một con người khôn ngoan khi luôn chọn một giải pháp trung dung hơn là tự đưa mình về cực của các vấn đề.

Con người, dù là quan toà, thường dân hay công an viên - nếu khôn ngoan - thì luôn phải có những chọn lựa trung dung để không biến mình thành kẻ cùng cực trong hành động hoặc trở thành công cụ điên cuồng vô tri trong tay kẻ khác. Vua Solomon khôn ngoan có để lại lời dạy như vậy cho hậu thế.

Tôi ngừng câu chuyện kể ở đây, hẹn các bạn trong một dịp khác. Xin chúc một ngày của Cha bình an và tốt lành đến mọi nơi. Chúc một ngày lành của Cha đến những gia đình biết chọn lựa và nhận ra tương lai cần phải có cho mình và con cái của mình, là gì.



Wednesday, June 14, 2017

Cho một kiếp mơ được yêu nhau



Tác giả hai bài thơ đã cùng âm nhạc của Phạm Duy trở thành bất hủ trong lòng người Việt, nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, đã ra đi vào ngày 9/6/2017 tại miền Nam California. Một cái tên lớn của văn hoá Việt Nam đã hoá mây về trời trong những ngày ở quê nhà đầy mưa và mây xám.
Kiếp nào có yêu nhauĐừng bỏ em một mình, là đôi tác phẩm trong hàng loạt các sáng tác của bà như truyện ngắn, truyện dài, thi tập... mà danh mục có đến 17 ấn bản, từ năm 1960 đến 1990.
Tài liệu về bà, chủ yếu được trích từ sách "Văn nghiệp & cuộc đời Minh Đức Hoài Trinh" do phu quân của bà là Nguyễn Huy Quang chép lại (sách đề tác giả là Nguyễn Quang). Hiện sách gần như tuyệt bản. Trong đó nói rõ tiểu sử của bà như sau:
"Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982. Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học.
Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam. . . Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.
Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979"...
Về câu chuyện văn bút quốc tế, có rất nhiều chi tiết đáng ngưỡng mộ tâm sức của bà.
Sau năm 1975, rất nhiều hội đoàn chính danh liên kết với quốc tế của miền Nam Việt Nam như Hướng đạo sinh, Ngân hàng, báo chí... đều bị đứt đoạn. Hội nhóm văn chương tự do của miền Nam sau thời điểm đó đều tan tác, mỗi người một hướng.
Theo quy định của Văn bút Quốc tế, muốn tái lập, thì tổ chức nhân danh quốc gia đó phải có ít nhất là 20 thành viên. Từ một nền văn hoá có đến hàng ngàn danh sĩ của miền Nam, việc liên lạc và tập hợp 20 người vào năm 1977 đến 1979 đã trở nên khó khăn vô cùng, nhất là khi cuộc sống của người Việt di tản còn vất vả và ly tán.
Năm 1978, nữ thi sĩ và là nhà báo Minh Đức Hoài Trinh một mình tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế kỳ 43 tổ chức ở Stockholm, Thụy Điển, và đơn độc một tiếng nói Việt Nam ở đó, bà vận động các nhà văn và các bút nhóm quốc tế quen biết ủng hộ cho việc thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese Abroad Pen Centre) chính danh là thành viên của Pen International, với lý do nối kết lại hoạt động của giới trí thức tự do Việt Nam sau chiến tranh. Đây là việc mà ai cũng thấy là vô hy vọng vì sự chống đối mạnh mẽ của phe thân cộng, lúc đó đang nổi lên trong Pen International. Nhưng kết quả bỏ phiếu thì thật bất ngờ: 23 phiếu thuận – 23 phiếu chống. Rất nhiều nhà văn trong hội đồng đã cảm động trước tâm nguyện của bà nên đã bỏ phiếu đồng ý. Tiếc là kết quả không như ý.
Năm 1979, tại Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế kỳ 44 ở Rio de Janeiro, Brazil, cuộc vận động của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh thành công. Và Văn Bút Việt Nam Hải ngoại tồn tại đến ngày hôm nay, vẫn chính danh là nhánh văn bút quốc tế thuộc Pen International.
Mục đích và tâm lực của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là muốn xây dựng một tiếng nói truyền thông có tầm quốc tế cho giới trí thức người Việt đang phải ly tán, nhất là vào lúc khi muốn cất tiếng thì lại quá lạc loài. Tầm nhìn của một phụ nữ như bà, vào thời gian ấy, quả thật đáng ngưỡng mộ.
Từ năm 1982, Minh Đức Hoài Trinh định cư ở Hoa Kỳ, sau đó ở gần nơi cư trú của nhạc sĩ Phạm Duy. Nơi Midway City, mà ông thường diễn dịch một cách thơ mộng là Thị trấn giữa đàng.
Nói về cơ duyên của sự kết hợp thi ca và âm nhạc của Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình, nhạc sĩ Phạm Duy có ghi lại trong hồi ký Vang vọng một thời: “Tôi bấy giờ đang là quân nhân... bỗng gặp lại Minh Đức Hoài Trinh lúc đó được mười bảy tuổi từ thành phố Huế thơ mộng chạy ra với kháng chiến. Nàng còn đem theo đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô. Từ tướng Tư lệnh Nguyễn Sơn cho tới các văn nghệ sĩ, già hay trẻ, độc thân hay đã có vợ con... ai cũng đều mê mẩn cô bé này. Phạm Ngọc Thạch từ Trung ương đi bộ xuống vùng trung du để vào Nam bộ, khi ghé qua Thanh Hóa, cũng phải tới Trường Văn hóa để xem mặt Hoài Trinh. Hồi đó, Minh Đức Hoài Trinh đã được Đặng Thái Mai coi như là con nuôi và hết lòng nâng đỡ.
Năm 1954, tôi gặp Minh Đức Hoài Trinh lần thứ ba khi tôi tới Paris ở khoảng hai năm. Nàng đã rời Việt Nam, đang sống với một người em trai trong một căn phòng nhỏ hẹp. Ba lần gặp nhau là rất hy hữu, tôi bèn giao lưu với nàng và soạn được hai bài ca bất hủ”...
Là người sống cùng thời đại với nữ văn sĩ Pháp Francoise Sagan, và cũng là người theo Tây học nhưng tư tưởng bàng bạc theo thuyết cõi tạm của Phật giáo, ngôn ngữ của bà luôn u uẩn nhưng dữ dội và đắm đuối đến ngộp thở, đọc lại vẫn bàng hoàng:
"Đừng bỏ em một mình Trời đất đang làm kinh Rừng xa quằn quại gió Thu buốt vết hồ tinh"
Hay
"Kiếp nào có yêu nhau Nhớ tìm khi chưa nở Hoa xanh tận nghìn sau Tình xanh không lo sợ
Hoặc trong bài "Tình chúng mình sẽ được vẽ lên tranh" có đoạn:
"Anh còn sống là mình còn xa cách Vì cuộc đời hay ghét kẻ yêu nhau Vì hạnh phúc phải xây trên nhiều thử thách Xã hội điên cuồng, nhân loại ngợp thương đau"
Tạm biệt bà, một danh nhân của nền văn hoá đầy sức sống mãnh liệt của miền Nam Việt Nam tự do. Thêm một người nữa đã khuất, và thêm những núi đồi hùng vĩ lại mọc lên mà hậu sinh sẽ cứ phải ngước nhìn trong trầm mặc. Những ngọn núi nhắc rằng đỉnh cao của kiếp người là để sống và mơ được yêu thương nhau, dẫu muôn thương đau.

Phụ lục: Các tác phẩm của Minh Đức Hoà Trinh đã xuất bản gồm có:
Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).

Tuesday, May 16, 2017

Đỗ Thị Minh Hạnh: “Bắt Hoàng Bình là một hành động phi nhân”


 Ngày 15/5/2017, nhà hoạt động Hoàng Bình đã bị công an tỉnh Nghệ An bắt giữ tại đoạn đường Quốc lộ 1, thuộc thôn 4 xã Diễn An, Huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Ngay sau đó, Công an cho biết đã khởi tố Hoàng Bình, phó chủ tịch của Phong trào Lao Động Việt, với hai tội danh là “Chống người thi hành công vụ” (điều 257) và “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước; quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” (điều 258).
Với tư cách là chủ tịch của Phong trào Lao Động Việt trong nước, một tổ chức XHDS hoạt động với chủ trương hỗ trợ người lao động, chị Đỗ Thị Minh Hạnh đã lên tiếng về sự kiện này

Về sự việc anh Hoàng Bình (tức Hoàng Đức Bình) bị công an tỉnh Nghệ An bắt bất ngờ và vào ngày 15/5 vừa qua, quan điểm của Phong trào Lao Động Việt như thế nào, xin chị cho biết?
Đối với quan điểm của Phong trào Lao Động Việt (PTLDV) thì việc bắt giữ anh Hoàng Bình đã gây nên một sự phẫn nộ chung, vì các hoạt động của anh, cũng nằm trong mục đích của PTLDV, là nhằm hỗ trợ cho các ngư dân miền Trung đang gặp khó khăn vì thảm họa môi trường. Việc bắt giữ anh theo cách như đã diễn ra, là một hành động hết sức phi nhân tính.

Thế nhưng phía công an thì nói rằng anh Hoàng Bình đã phạm tội ở các điều là “Chống người thi hành công vụ” (điều 257) và “lợi dụng quyền tự do dân chủ để tuyên truyền chống phá Nhà nước” (điều 258), chị giải thích sao về những điều này?
Chúng tôi được biết, việc anh Hoàng Bình bị ép vào điều 257, tức chống người thi hành công vụ. Nhưng trên thực tế, chính phía các cơ quan chức năng của nhà cầm quyền đã hành động đàn áp, bắt bớ trái pháp luật đối với những người đang lên tiếng ôn hòa trước hiện tình đất nước, đặc biệt là với sự kiện Formosa thải độc ra biển miền Trung.
Anh Hoàng Bình không có hành động nào gọi là chống đối như nhà cầm quyền mô tả cả.  Bình chỉ là người dám nói một cách thẳng thắn mọi điều đang diễn ra, và nói thay cho những ngư dân ở đó, vốn không có điều kiện truyền bá thông tin.  Việc anh Bình bị gán ghép một tội danh như vậy, đối với giới hoạt động xã hội dân sự trong nước là chuyện rất đỗi bình thường. Vì xưa nay, nhà cầm quyền vẫn ra các tội danh như vậy như một cách chụp mũ cho những ai mà họ không thích. Mục đích là dập tắt những tiếng nói ấy vào tù, dập tắt sự thật.
Còn với điều 258, gọi là lợi dụng quyền tự do dân chủ để tuyên truyền chống phá Nhà nước thì thật là vô lý. Vì hoạt động của anh Bình, cũng như tiêu chí của PTLDV là giúp đỡ người lao động, và hoàn cảnh ở Nghệ An là ngư dân. Với tinh thần ấy, anh Hoàng Bình đi vào cuộc sống của người dân một cách đường hoàng và tự nhiên. Thế nhưng chính quyền thì lại chụp cho anh ấy cái mũ chống Nhà nước.  Ngôn từ của điều luật 258 hết sức mù mờ khi nói anh Bình “lợi dụng quyền tự do dân chủ” – nhưng thực tế ở Việt Nam thì cho thấy không hề có tự do dân chủ. Do đó mọi thứ chỉ là gán ghép tội danh để tống người vào tù mà thôi.

Tin cho biết sắp tới đây, Formosa sẽ đẩy mạnh hoạt động, chuẩn bị vận hành tổ máy số 1 với công suất lớn hơn. Liệu tình hình hiện nay với Bạch Hồng Quyền, Hoàng Bình… có phải là một lời cảnh báo của nhà cầm quyền về việc giới tranh đấu về môi trường phải chấm dứt ngay các hoạt động đòi bồi thường hay kiện tụng hay không?
Đã hơn một năm nay, thảm họa từ hoạt động của nhà máy Formosa đã rõ. Chính vì sự kiện này mà các anh em như Bạch Hồng Quyền, Hoàng Bình… đã sát cánh cùng ngư dân trong thời gian vừa qua để đòi công lý, minh bạch về thảm họa… và được người dân thương mến. Chính vì vậy mà nhà cầm quyền lo sợ.
Tôi tin rằng khi tổ máy số 1 của Formosa hoạt động, chắc chắn người dân lại càng thêm phẫn nộ. Bởi thảm họa chưa giải quyết xong thì lại tiếp tục còn phát triển hoạt động trên nền thảm họa đó. Việc bắt bớ và khủng bố tinh thần… tôi tin rằng mọi thứ đều nằm trong một “quy trình” chuẩn bị cho các hoạt động mới của công ty Formosa mà thôi.

Tính từ đầu năm đến nay, có ít nhất là 8 người hoạt động về môi trường, đặc biệt là liên quan Formosa, đã bị bắt giữ theo các tội danh khác nhau. Đây quả là một điều gây sốc sốc trong dư luận trong và ngoài nước, chị nghĩ biện pháp này của nhà cầm quyền sẽ làm giới tranh đấu hoảng sợ và chùn lại?
Không chỉ liên tục những người tranh đấu cho môi trường bị bắt giữ, mà thậm chí những người đang sinh hoạt bình thường cũng bị canh giữ, theo dõi, ngăn chận một cách vô pháp luật. Tôi có thể lấy ví dụ là ở Sài Gòn, từ cuối tháng tư, chúng tôi đã trãi qua 3 đợt canh chận một cách hung hăng mà không có lý do. Đợt đầu là 4 ngày, sau đó là đợt 2 ngày, rồi mới đây là một đợt kéo dài 9 ngày, chỉ tạm dừng trước khi anh Hoàng Bình bị bắt.
Tôi tin rằng chính quyền đang lo sợ sự thật tràn ra, bùng nổ, mọi người dân sẽ ý thức khác và đòi quyền lợi của mình, của đất nước. Như vừa rồi, khi công an bắt giữ anh Hoàng Bình, hàng ngàn người dân đã chận Quốc lộ 1 và đòi phải thả người. Sự đoàn kết đó là chúng tôi hết sức ấm lòng.
Tù đày không làm chúng tôi sợ hãi. Tôi nghĩ mọi con người khi bước vào công việc xã hội dân sự đều chấp nhận những bất trắc sẽ đến. Tù đày chỉ là nơi rèn luyện chúng tôi dày dạn hơn và chuẩn bị tốt hơn cho việc phụng sự đất nước về sau.
Không riêng chúng tôi, mà tôi tin rằng rất nhiều người dân giờ đây đã không còn sợ hãi. Nếu sợ hãi thì họ đã tê liệt và trốn chạy trong sự kiện Bạch Hồng Quyền hay Hoàng Bình. Nhưng hàng ngàn người đã lên tiếng, đã xuống đường chặn giao thông để đòi minh bạch sự việc. Và đám đông đó đã hình thành thì chỉ có thể nâng lên, tạm lùi chứ không thể nào mất đi được.




Friday, May 12, 2017

Một bài hát của Thức





Một ngày cuối tháng 4, tôi nhận được cú điện thoại từ gia đình của anh Trần Huỳnh Duy Thức, kể tình hình của anh Thức trong trại giam lúc này. Câu chuyện kèm theo một món quà bất ngờ: một bài hát mà anh Thức sáng tác nhân ngày của mẹ, vào tháng 5/2017.

Nhiều ngày, tôi không có lòng nào mà nghe nổi bài hát, bởi chỉ loay hoay nghĩ về tình trạng của anh Thức trong nhà tù số 6, một nơi nằm sâu ở phía tây Nghệ An. Từ tháng 8/2016, trong phòng giam nóng bức và tăm tối cả ngày lẫn đêm, những người quản lý trại tù số 6 đã quyết định cắt điện phòng giam của anh Thức. Mọi sinh hoạt của anh đều phải diễn ra trong một khung cảnh nhờ nhờ, suốt trong nhiều tháng, đã khiến thị lực của anh bị sút giảm trầm trọng.

Anh Trần Huỳnh Duy Tân, em trai của anh Thức kể lại sau chuyến đi thăm nuôi vào tháng 4 vừa rồi, rằng anh Thức đang bị tình trạng mắt nhìn không còn rõ, lại có nhiều biểu hiện như ruồi bay trước mắt. Lúc này, anh đọc hay nhìn rất tệ. Khi gia đình xin trại giam mở điện phòng vào ban ngày, hoặc nếu không thì xin được gửi vào cho anh Thức chiếc đèn pin nhỏ bằng nhựa để anh có thể nhìn rõ hơn, thì phía nhà tù đã từ chối, nói rằng đèn pin thuộc vào thiết bị điện tử, nên không được sử dụng.
Khó tả làm sao, khi nhà chính quyền không mang lại ánh sáng cho con người, việc chọn cách tự thắp lên một tia sáng để bước đi, con người cũng không được phép. 

Anh Tân nói lần thăm nuôi đó là một lần thật căng thẳng. Vì lần đó gia đình đã có những phản ứng dữ dội nhất về hoàn cảnh chịu lao tù của anh Thức. Sự căng thẳng không phải bởi chỉ chuyện ánh sáng phòng giam, mà điều kiện y tế nói chung cũng tồi tệ đến mức gia đình giật mình khi nhận được yêu cầu từ anh Thức, rằng sớm gửi vào cho anh sách vở nói về các kiểu bệnh của răng, để anh đọc và tìm cách tự chữa chứ không thể trông cậy gì vào việc nhờ cậy y tế nhà tù.

Tôi không dám hỏi thêm về các triệu chứng mắt của anh Thức – có thể đó là tình trạng vẩn đục dịch kính hay tăng nhãn áp chẳng hạn – do tôi nhìn thấy gia đình anh cũng đã đủ căng thẳng. Tôi lại thấy mình loay hoay, nghĩ vẩn vơ khi nhìn ra ngoài trời mùa hè ở Sài Gòn đang rực nắng, và nghĩ tới đâu đó âm u trong căn phòng giam nhốt một người luôn cất lên những lời yêu nước thiết tha.

Cuối cùng, tôi cũng mở bài hát của anh Thức để nghe anh viết gì. Nếu không kể bài hát về Mẹ vào năm ngoái, mà anh viết lời, Trần Vũ Anh Bình viết nhạc, thì đây là bài đầu tiên anh tự mình viết tất cả.

Tôi mở bài hát, nghe đi nghe lại nhiều lần. Có lúc, tôi bước vội ra cửa sổ nhìn trời, trong khi tai vẫn còn vang lên giai điệu của bài hát. Thật khó tin những gì tôi đang thấy ngoài đời là những lời anh viết, anh mô tả từ phòng giam tăm tối đó. Ánh nắng, mây trắng, làn gió và những mầm xanh đang phất phơ trong một ngày thiên nhiên tràn ngập sự sống, có đủ trong bài hát. Phải yêu cuộc đời này lắm, thì ca từ của anh Thức mới có đầy ắp sự rạo rực của hy vọng và khát khao như vậy. Bài hát của anh nói về mẹ, về cha, nhưng nghe như lời hát về tổ quốc mình. Nghe mà thao thức, mà loay hoay.

Tôi chỉ biết gửi đến các anh chị, các bạn, bài hát mới của anh Trần Huỳnh Duy Thức. Tôi xin để lại mọi thứ trong cảm nhận riêng của từng người về bài hát này, hơn là diễn giải một cách dài dòng. Nhưng tôi tin khi lắng nghe và chia sẻ đủ, các bạn và các anh chị sẽ có cùng một cảm giác như tôi: rằng một người như có suy nghĩ đầy ánh sáng như Trần Huỳnh Duy Thức, ắt sẽ sớm thoát khỏi bóng tối của căn phòng giam oi bức đó, để còn dựng lên những mầm xanh, những con đường Việt Nam, như anh đã ôm ấp, viết lên trong bài.

TB: Anh Thức nói tôi đặt tựa giùm cho bài hát này, để gửi tặng cho tất cả những ai yêu mẹ, yêu đất nước mình. Tôi có tạm đặt một cái tên cho bài hát này, nhưng có lẽ đúng nhất, chính người nghe và chia sẻ với Trần Huỳnh Duy Thức sẽ tự mình thầm gọi tên nó, theo những suy nghĩ riêng. Chắc anh Thức sẽ vui vì điều đó.



Thursday, May 11, 2017

Bạch Hồng Quyền:"tôi hành động chỉ vì quyền con người"


Cuộc trò chuyện nhanh với Bạch Hồng Quyền sau khi có lệnh khởi tố
Ngày 12/5/2017, Công an Hà Tĩnh đã hai lần đến nhà vợ của anh Bạch Hồng Quyền để đòi công bố lệnh khởi tố “vì gây rối”. Tuy nhiên khi gia đình của Quyền yêu cầu được chụp lại văn bản lệnh khởi tố này thì công an từ chối không cho.
Ngay sau đó, chị Linh, vợ của Quyền đã từ chối nghe đọc lệnh, nếu không được giữ lại một bản lệnh khởi tố, cũng như không đồng ý lập biên bản làm việc, khai báo Quyền hiện nay đang ở đâu
Khi một nhân viên công an nói vợ của Quyền đã gọi chồng ra đầu thú, chị Linh đã nói rằng “chồng em không phạm tội gì mà đầu thú”. Một nhân viên công an khác, đã nói bằng giọng đầy ý gài bẫy rằng “vậy là em không hợp tác?”
Được biết, giới truyền thông độc lập trong nước đã truyền đi, rằng lệnh khởi tố Bạch Hồng Quyền được công an Hà Tĩnh phát đi từ ngày 19/4/2017. Tuy nhiên Quyền không có mặt nên công an địa phương sau khi truy tìm không thành công, đã đến nhà vợ của anh để đòi công bố lệnh khởi tố này.
Cuộc trò chuyện này, được thực hiện sau khi có lệnh khởi tố anh Quyền, tại một vùng ở Việt Nam.
---------------------------------------
Anh nói gì về mình, lúc này?
Tôi là thành viên của Phong trào Con đường Việt Nam, với tiêu chí là đi phổ biến các quyền con người, nói với người dân về quyền của mình phải được có trong xã hội.
Ở Lộc Hà, chúng tôi được biết rằng đã hơn gần một năm, người dân lẫn các doanh nghiệp ở đó vẫn chưa nhận được tiền đền bù – dù chính phủ đã nói là nhận được 500 triệu đô la để bù đắp thiệt hại cho người dân. Chúng tôi có mặt ở Lộc Hà với mục đích là hướng dẫn người dân làm giấy tờ hồ sơ, nói về quyền của họ theo pháp luật.
Lâu nay, người buôn bán hay các doanh nghiệp ở huyện Lộc Hà đã tìm cách ra tận Trung ương hay các Bộ để chất vấn về tình trạng của mình nhưng không có được câu trả lời nào, thậm chí ngay ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vậy. Chúng tôi có mặt ở đó cũng để phản ánh tình trạng này cho mọi người được biết. Công an thì nói chúng tôi đến để kích động người dân, nhưng mục đích của chúng tôi thì chỉ đơn giản như vậy.
Phía truyền thông nhà nước, ngay từ trước khi có lệnh khởi tố, đã nói anh và Hoàng Đức Bình (Phong trào Lao Động Việt) có âm mưu xâm nhập vào Lộc Hà, Hà Tĩnh nhằm tuyên truyền kích động người dân chống phá nhà nước. Nếu là mục đích hợp pháp như anh nói, thì sao chỉ có anh và Hoàng Đức Bình hành động thôi? Có tổ chức Xã hội Dân Sự nào khác cũng có ý hướng đến Lộc Hà như vậy không?
Ở Việt Nam thì có nhiều tổ chức Xã hội Dân sự có hoạt động yểm trợ người dân như vậy. Nhưng để đến được điểm nóng như ở Lộc Hà, hay nhiều nơi khác ở Hà Tĩnh, không phải ai cũng có điều kiện tiếp cận được.
Tôi là một người Công giáo. Khi nhìn thấy những điều bất công và người dân cần phải được giúp đỡ - đặc biệt là trong số đó có nhiều người Công giáo – tôi thấy mình có trách nhiệm phải giúp đỡ mọi người.
Khó tiếp cận theo ý anh Quyền là sao? Có sự ngăn trở nào với các nhóm Xã hội Dân sự trong việc đến và giúp người dân bị nạn bởi thảm họa Formosa? Người dân đã ở trong tình trạng như thế nào mà các nhóm Xã hội Dân sự cần tiếp cận giúp đỡ?
Bất kỳ ai theo dõi sự kiện, đặc biệt qua facebook của anh Hoàng Đức Bình, thì sự kiện xảy ra ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh cách đây vài tháng, người dân đã kéo nhau ra Ủy ban nhân dân thi xã Kỳ Anh để đòi chính quyền phải có hành động trong việc bồi thường do Formosa gây ra. Chính quyền đã đối phó bằng cách đưa ra nhiều lực lượng Cảnh sát Cơ động, an ninh chìm… bằng mọi cách để phá cuộc tuần hành này.
Đặc biệt là sự kiện ngày 14/2, khi người dân của 3 xã xã Quỳnh Ngọc, Sơn Hải và Quỳnh Thọ cùng nhau đi đưa đơn kiện Formosa thì chính quyền đã cho đàn áp, đánh đập những người dân đi nộp đơn như vậy. Nếu có theo dõi, mọi người sẽ nhớ là ngay cả linh mục Nguyễn Đình Thục có mặt trong đoàn đi nộp đơn kiện đó cũng đã bị đánh đổ máu. Có mấy chục người bị tấn công, thương tích. Hình ảnh và sự kiện này vẫn còn lưu đầy trên các trang mạng.
Tình hình căng thẳng như vậy, nên việc tiếp cận của các nhóm Xã hội Dân sự cũng không hề dễ dàng.
Một trong những điểm nhấn của chính quyền gần đây, là đưa nhiều tin tức về việc bắt giữ anh Nguyễn Văn Hóa ở Hà Tĩnh theo điều 258. Theo truyền hình, tội của Hóa là đưa tin về các cuộc biểu tình và đời sống của người dân trong vùng bị thảm họa Formosa, nhưng động cơ là vì tiền. Trước khi những điều xấu nhất có thể diễn ra như với anh Nguyễn Văn Hóa, anh có thể khẳng định rằng hành động của anh và anh Bình có hoàn toàn vì con người, không vì một lý do nào khác?
Tôi bước chân vào cùng đoàn tuần hành, là nhằm để đưa tin tức đến cho mọi người. Mọi hình ảnh và thông tin mà tôi chuyển tải với góc độ trung thực nhất để mọi người dân Việt Nam, và cả thế giới, được biết người dân Hà Tĩnh đã đòi quyền lợi của mình như thế nào. Kể cả việc chính quyền đã ngăn cản và đàn áp người dân ra sao.
Tôi khẳng định rằng nếu nay mai này tôi bị bắt, chỉ vì tôi đã hành động để giúp cho người dân hiểu được quyền của mình theo luật pháp, đứng bên họ vì đó là những con người đi đòi công lý chứ không hề là mục đích nào khác như “kích động” hay “vì tiền”. Tôi và anh Hoàng Đức Bình hành động theo lý trí và lương tâm của mình, chứ không có một tổ chức hay thế lực nào có thể mua chuộc được chúng tôi cả.
Truyền thông thuộc nhà nước, trong những thời gian gần đây, đặc biệt khi đưa những tin tức về thảm họa môi trường, luôn tìm cách vu khống, bôi nhọ những người đem lại giá trị truyền thông độc lập như chúng tôi. Và đặc biệt với những phóng sự trước khi có lệnh khởi tố cũng chỉ là dọn đường nhằm bắt chúng tôi.
Việc khởi tố hay gây áp lực trên truyền thông như vậy, cũng chỉ khiến người dân hoang mang, sợ hãi hoặc chùn lại con đường đi đòi quyền lợi hợp pháp của mình. Rồi sẽ có một ngày, chúng tôi sẽ đến tận các nơi đó để chất vấn việc đã tạo dựng những điều như vậy với chúng tôi.
(5/2017)

Sunday, April 30, 2017

Những ngày ấy, mỗi người



30/4/1975 là biến cố của một đất nước, nhưng ngày đó cũng là biến cố riêng của nhiều con người.

Trong dòng chảy tán loạn từ Huế, Đà Nẵng, Nha Trang vào Sài Gòn... có vô vàn những câu chuyện chưa kể. Nguyễn Thị Xuân Phương, cựu phóng viên truyền hình Bắc Việt kể lại rằng bà kinh hoàng nhìn thấy xác thường dân nằm ngập và kéo dài suốt từ đèo Hải Vân xuống Đà Nẵng cũng với dòng người đi bộ, chạy... để tránh Việt Cộng. Còn phóng viên Trần Mai Hạnh của Thông Tấn Xã Việt Nam, người có mặt tại buổi trưa 30/4 với chiếc xe tăng tiến vào dinh Độc Lập, vừa ra một cuốn sách về 4 tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh, đã nói rằng cuối cũng thì điều ông tâm nguyện để lại, là sự thật.

Thỉnh thoảng, tôi vẫn tự hỏi vậy thì vào những thời khắc ấy - kể cả sau đó, những người tôi biết - hay không quen - đang như thế nào, làm gì?

Gia đình của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ kể rằng khi ngày 30/4 ập đến, chương trình biểu diễn tại Nhật của đoàn Hoàng Thi Thơ vẫn chưa chấm dứt, vì vậy ông bị kẹt ở lại, sau đó định cư ở Mỹ. Nhưng con và cháu ông thì lại có cơ hội chứng kiến nhiều điều mà đến mấy năm sau vẫn chưa thể kể cho nhau nghe, vì không thể có thư từ liên lạc, rồi đến khi có, cũng không dám kể gì cho nhau, vì thư luôn bị kiểm duyệt.

Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là Hoàng Mỵ Thi Thoa và Hoàng Thi Thanh bất ngờ nhìn thấy một đám đông lính Bắc Việt và những thành phần "băng đỏ" đứng trước ngôi nhà của mình tại quận 1, đập cửa, quát tháo. Hai em nhỏ vị thành niên này cùng người cậu của mình bị buộc phải ra khỏi nhà ngay lập tức vì đang ở trong "nhà của tên có tội với nhân dân Hoàng Thi Thơ, nên đã bị chính quyền cách mạng trưng thu".

Tất cả mọi người được sự khoan hồng nên có được 5 phút để trở vào ngôi nhà của mình, lấy 2 bộ quần áo cho mỗi người và ra đi, không kịp đốt nén hương từ giã ông bà. Dĩ nhiên, ngay cả việc đi lấy quần áo cũng có người cầm súng theo kiểm soát vì sợ hai em nhỏ này cất giấu hay tẩu tán tài sản.

Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ gạt nước mắt ra khỏi nhà của mình, đi cùng một người cậu về Gò Vấp, tới một căn nhà khác của ông Hoàng Thi Thơ. Nơi đó, một người em họ của ông Thơ xuất thần trở thành người của cách mạng, chiếm nhà và chỉ mặt Hoàng Vinh, người cháu của ông Thơ nói là đi cho mau, tha không bắt lại vì "khoan hồng", dù là người nhà của Hoàng Thi Thơ, là thành phần "truỵ lạc".

Với Phương, người nhạc sĩ của đôi song ca Lê Uyên Phương lừng danh, thì ông hoàn toàn rơi vào một cú sốc khác thường. Việc chứng kiến một Sài Gòn hỗn loạn và đổ nát, những con đường vất vưởng xác người cùng với loa phóng thanh ra rả về khái niệm "giải phóng" khiến ông bước sang một giai đoạn khác.

Những cảm hứng về nhạc tình, hiện sinh và mộng mơ bị chôn vùi theo mất mát của Sài Gòn. Lê Uyên Phương yêu đương dịu dàng ngày nào giờ đây hình thành hai tập ca khúc Con người, một sinh vật nhân tạo (1973-1975). Mỗi ngày ông ngồi ở cafe vỉa hè, đi bộ dọc theo những con đường phơ phất lá me xanh quen thuộc nhưng giờ đầy các họng súng AK, và tự mình chiêm nghiệm về một thời đại của những kẻ cùng tiếng nói nhưng khác mạch sống.

Cũng như nhiều nhạc sĩ khác bị cú sốc thời cuộc và chuyển khuynh hướng sáng tác tình ca sang hiện thực ca như Phạm Duy (Tỵ nạn ca), Ngô Thuỵ Miên (Em còn nhớ mùa xuân, Biết bao giờ trở lại), Anh Bằng (Nổi lửa đấu tranh, Saigon Kỷ Niệm), Lam Phương (Chiều Tây Đô), Trầm Tử Thiêng (Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng, Một ngày Việt Nam)... Phương là một nhạc sĩ khá đặc biệt khi ông dành rất nhiều thời gian viết về những chuyển động quanh mình, về một thế giới mở và tang thương của hàng triệu người Việt, qua tập ca khúc Trại tỵ nạn và các thành phố lớn.

Những ngày ấy, mỗi người, mang vội theo những điều thương mến nhất, bỏ lại tài sản, bỏ lại quê hương... gạt nước mắt chạy đi về vô vọng. Ca sĩ Khánh Ly chạy đến chiếc tàu đi di tản, hành lý quan trọng nhất mà bà mang theo là hai vali đầy những lá thư tình trong đời bà - những lá thư không chỉ là tình yêu mà chứa cả khung trời thơ mộng và bình yên của miền Nam Việt Nam đã mất.

Nhiều văn nghệ sĩ táo tác như bầy kiến bị phá tổ, chạy đến nhà nhau để hỏi thăm tin tức từng ngày về số phận của mình, số phận của thành phố mình đang sống. Họ thì thào với nhau về những biến động khó hiểu từng ngày như Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Nhã Ca vừa bị bắt... Rồi ai đó bị thẩm vấn, và ai đó đã lặng lẽ xuống tàu giờ không còn nghe tin tức.

Thương gia đình, không nỡ bỏ xuống tàu vượt biên, nhạc sĩ Y Vân tiễn một người bạn thân lên đường. Nhưng đó lại là một chuyến tàu vĩnh biệt. Và đó là điều khiến ông trầm uất suốt nhiều năm liền, một ký ức sâu thẳm sau 1975.

Trong một lần nói chuyện với các anh chị đã qua thời khắc 1975, tôi nói đùa rằng một ngày nào đó nên lập một giải thưởng vô địch về người vượt biển nhiều nhất, vì tôi đã từng biết một chị người Công giáo ở khu Hoà Hưng đã tìm cách đi vượt biên 25 lần nhưng đều thất bại. Im lặng nhìn tôi trong tíc tắc, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn chỉ nhà văn Võ Quốc Linh, nói "đây, người vượt biển 26 lần". Rồi chỉ vào mình, anh Tuấn nói "còn mình, là 27 lần".

Vài năm sau 1975, khi nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn tốt nghiệp thủ khoa ngành sư phạm ở Nha Trang, khi bạn bè rủ nhau vui mừng lên bục nhận bằng, thì hiệu trưởng đến bên, ghé tai buồn rầu nói với anh Tuấn "con đừng lên nhận bằng. Công an đã đến tịch thu bằng vì nói gia đình con có vấn đề về lý lịch và có người đi vượt biên".

Nhiều năm sau, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn lang thang khắp các bờ biển miền Nam để tìm đường ra khỏi nước. Niềm tuyệt vọng và khát vọng tự do là sức mạnh lớn nhất giữ anh sống sót qua các trại tù khắc nghiệt nhất.

Ở trại tù nhốt người vượt biển tại Phú Yên, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn bị một cai tù tàn ác luôn tìm cách đẩy anh vào lao khổ, thậm chí dù biết anh là giáo viên, vẫn bắt anh làm công việc mỗi ngày phải hốt phân, gánh đi đổ cho cả trại. Đó là thời gian như địa ngục. Thân thể của ông có tắm bao nhiêu lần cũng không hết mùi hôi, những vết thương nhỏ nhất cứ lở loét chứ không thể lành.

Chuyến đi thứ 27, cuối cùng, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn đến được Úc. Anh xin nhận thêm công việc tiếp nhận và giúp đỡ và người tỵ nạn mới đến, như trả ơn cho những ngày tháng tự do của mình.

Một đêm nọ, nghe tin có một chuyến tàu vượt biên vừa đến. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ra nơi tiếp nhận. Khi đang đi lướt qua những người vừa cập bến, anh bất chợt nhìn thấy một gương mặt quen thuộc mà anh khó có thể quên trong đời: đó chính là viên công an cai tù đã hành hạ anh. Sững người nhìn viên cai tù ấy, ngược lại, nhân vật đó cũng bối rối quay mặt đi, né cái nhìn của anh Tuấn.

Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ôm đầu suy nghĩ suốt nhiều giờ, rồi chọn cách gặp riêng nhân vật cán bộ cai tù đó để hỏi thẳng rằng hắn muốn gì khi đến đây. Chỉ cần một lời tố cáo, cán bộ đó có thể bị trục xuất về Việt Nam, hoặc sẽ bị chính quyền sở tại bắt giữ và đưa ra toà vì tội từng tra tấn và hành hạ tù nhân.

Sợ hãi và tuyệt vọng, viên cán bộ thú thật là hắn đã lỡ yêu một người phụ nữ đã có gia đình là "Mỹ Nguỵ" nên không còn cách nào khác là từ bỏ tất cả, cùng người yêu vượt biển, mà không ngờ có kết cục như hôm nay.

Khi kể cho tôi nghe chuyện này, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ngừng giây lát, rồi nói rằng "không biết bây giờ tay đó sống ở đâu đó, trên nước Úc này". Anh đã im lặng và điền hồ sơ cho viên cán bộ cộng sản đó cùng người yêu của hắn tỵ nạn ở Úc. Vết thương chưa bao giờ của anh, một người bị hành hạ trong trại giam cũng như bị xô đẩy ra khỏi đất nước mình, cũng đã thanh thản chữa lành với lòng tha thứ.

Thật nhiều điều để ghi lại, từ hàng triệu người sống sót sau biến cố tháng 4/1975. Cứ vào thời điểm này, nhà nước Việt Nam gọi là đại lễ và tổ chức ăn mừng. Còn hàng triệu người Việt khác thì vào tưởng niệm, như buộc phải coi lại cuốn phim bi kịch chung cũng như những đoạn phim cay nghiệt của riêng mình.

Những ngày ấy, mỗi người. Những cuốn phim một chủ đề nhưng có muôn vạn phiên bản ray rứt đến nhiều đời sau.

Và trong một ngày ăn mừng "đại lễ" của nhà nước Việt Nam, tôi chợt nhớ đến viên cán bộ cai tù vô danh ấy. Tôi tự hỏi, ông ta sẽ đứng đâu giữa lằn ranh ngày 30/4 mỗi năm ấy?